TRÍCH DẪN HAY VỀ SÁCH

“Những cuốn sách đưa ta vào trạng thái mê say tận tâm, chúng tương tác với ta, mang lại lời khuyên và kết nối với ta qua một mối quan hệ sống động và mạch lạc" (H.Godefroy)

TÀI NGUYÊN THÔNG TIN

LƯỢT TRUY CẬP

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

    THÀNH VIÊN TRỰC TUYẾN

    1 khách và 0 thành viên

    Học Bác mỗi ngày. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo

    Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    THÀNH CÁT TƯ HÃN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trần Hoàng Giang
    Ngày gửi: 09h:39' 28-12-2023
    Dung lượng: 2.4 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    epub©vctvegroup
    26-9-2018

    LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ
    (cho ấn bản tại Việt Nam)

    THÀNH CÁT TƯ HÃN là nhà chinh phạt vĩ đại nhất trong lịch sử
    thế giới. Không nhà chinh phạt phương Tây nào chinh phục được dù
    chỉ một nửa số dân hay đất đai của Thành Cát Tư Hãn. Sau khi đế
    quốc của ông ra đời vào năm 1206, nó tiếp tục mở rộng suốt gần
    một thế kỷ, và cuối cùng kéo từ Thái Bình Dương tới Địa Trung Hải,
    và từ Bắc Băng Dương tới Biển Ả-rập. Đế quốc Mông Cổ là đế quốc
    duy nhất trong lịch sử bao gồm cả Trung Quốc và Nga, cũng như
    nhiều đất nước nhỏ hơn từ Triều Tiên tới Iran, Afghanistan, Syria,
    Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ. Với một đội quân chỉ vỏn vẹn mười vạn lính,
    quân Mông Cổ đánh bại các đế quốc hàng triệu lính. Dường như
    không đất nước nào có thể chống lại đội quân Mông Cổ hùng mạnh.
    Chỉ có một thất bại lớn duy nhất trong các cuộc chinh phục của
    Mông Cổ: Việt Nam. Đi ngựa bằng đường bộ từ Trung Quốc, rồi
    bằng tàu băng qua đại dương, quân Mông Cổ đã nhiều lần cố gắng
    xâm chiếm các vương quốc thuộc Việt Nam ngày nay, và dù họ
    thắng vài trận đánh, họ không bao giờ có thể sáp nhập Việt Nam
    vào đế quốc của mình. Mông Cổ cũng thất bại khi xâm lược Nhật

    Bản và Java bằng đường biển, nhưng Việt Nam là nơi duy nhất họ
    thất bại cả trên đất liền và biển khơi.
    Hầu hết các quốc gia tan rã và thất thủ khi Mông Cổ xâm lược,
    nhưng Việt Nam đoàn kết lại và lần đầu xuất hiện trên trường thế
    giới. Dù tôi chỉ là một người nước ngoài với rất ít hiểu biết về lịch sử
    Việt Nam, tôi thấy rằng có vẻ thời Nguyên Mông là một trong những
    giai đoạn quan trọng nhất lịch sử Việt Nam. Các cuộc chiến chống
    quân Nguyên đã gắn kết những nhóm người rất khác nhau ở các
    vương quốc khác nhau lại để bắt đầu tạo nên đất nước Việt Nam
    hiện đại. Triều Nguyên Mông là khởi điểm cho thời kỳ hiện đại của
    Việt Nam, và nâng vị thế nước này lên cao hơn nhiều so với các
    vương quốc nhỏ hơn trước đó.
    Tôi cũng thấy một ảnh hưởng quan trọng thứ hai của thời kỳ này
    tới lịch sử Việt Nam. Nhà Nguyên tồn tại tới năm 1368, và trong
    phần lớn thời gian này họ cai trị Trung Hoa và Triều Tiên ở Đông Á,
    cũng như Iran và Iraq ở Tây Á, nhưng để kết nối hai phần này của
    đế quốc bằng đường biển, họ cần quan hệ hòa hữu với Việt Nam.
    Do vậy, Việt Nam trở thành một phần quan trọng của hệ thống kinh
    tế thế giới mới ra đời này. Tàu nhà Nguyên cần dừng ở cảng Việt
    Nam để lấy đồ tiếp tế, và nhà Nguyên cần phải hợp tác với Việt
    Nam. Việt Nam trở thành một phần không thể thiếu trên Con đường
    Tơ lụa trên biển liên kết Đông Á và Indonesia với Ấn Độ, Tây Á, bán
    đảo Ả-rập và châu Phi. Triều đại Nguyên Mông là khi Việt Nam tự

    chứng tỏ các bạn là một đất nước hùng mạnh về chính trị, quân sự
    và kinh tế.
    Tôi cũng có một lý do nữa để viết lời tựa đặc biệt này cho ấn bản
    tiếng Việt của cuốn sách này. Lý do này rất cá nhân. Khi tôi còn trẻ,
    cha tôi đã tham gia cuộc chiến ở Việt Nam. Ông đã tham gia Thế
    chiến II chống quân Phát xít, và dù chỉ là một người lính bình
    thường với học thức thấp, ông vẫn rất tự hào vì đã phục vụ đất
    nước mình với tư cách người lính. Ông đã lớn tuổi hơn khi tới Việt
    Nam, và chỉ là một đầu bếp. Khi cha tôi trở về từ Việt Nam, tôi đã đủ
    tuổi nhập ngũ, nhưng cha không cho tôi đi. Ông nói rằng cuộc chiến
    này là sai trái. Ông đã tham gia vào cuộc chiến, các con trai ông
    không nên đi. Chúng ta không nên tham chiến.
    Cha tôi trở về từ Việt Nam và bị nhiễm chất độc màu da cam do
    quân đội Hoa Kỳ đã rải bom hóa học xuống đây. Ông chết một cách
    chậm chạp, khó khăn và đầy đau đớn. Một cách từ từ, tôi cùng sáu
    anh chị em nhìn cha chết bởi cuộc chiến kinh khủng này. Vào thời
    gian đó, tôi nhìn thấy những tổn hại mà cuộc chiến này gây ra cho
    cha và gia đình tôi. Dù chiến tranh đã lùi xa, nỗi đau vẫn còn lại.
    Nhưng chúng tôi chỉ là một gia đình nhỏ. Tôi biết ở Việt Nam, hàng
    triệu người phải chịu những nỗi đau còn tồi tệ hơn, và nỗi đau của
    họ vẫn còn tiếp tục rất lâu sau khi những trái bom ngừng rơi và lính
    Mỹ đã trở về nhà.
    Từ chương sách buồn này trong cuộc đời cha tôi, tôi học được
    cách tôn trọng người Việt Nam, cả vì nỗi đau và lòng dũng cảm của

    họ. Tôi mong rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ dùng những vũ khí
    này chống lại bất kỳ ai khác, và tôi hi vọng rằng sau giai đoạn đau
    buồn này trong lịch sử hai nước, chúng ta có thể mãi trở thành bạn.
    Không bên nào nên quên lãng cuộc chiến, nhưng chúng ta không
    nên để hồi ức này cản trở việc cả hai trở thành đồng minh trong
    tương lai.
    Người dân và quân đội Việt Nam đã cho thấy lòng dũng cảm phi
    thường khi chống lại quân Mông Cổ tấn công bằng đường bộ và
    đường biển vào thế kỷ mười ba. Người dân và quân đội Việt Nam
    đã cho thấy lòng dũng cảm phi thường khi chống lại quân đội Mỹ tấn
    công bằng đường biển và đường không vào thế kỷ hai mươi. Người
    dân Việt Nam đã đấu tranh quật cường để giành được độc lập và tự
    do trong quá khứ. Họ xứng đáng có được vị trí độc tôn trong lịch sử
    thế giới và trong hệ thống hiện đại toàn cầu. Tôi hy vọng Việt Nam
    giờ đây sẽ mãi mãi mạnh mẽ, độc lập và tự do mà không cần phải
    tham gia cuộc chiến nào nữa.
    Mong Việt Nam sẽ mãi tồn tại trong thịnh vượng và hòa bình!

    Vị vua cao quý này mang tên Thành Cát Tư Hãn,
    Trong thời ngài danh tiếng lẫy lừng
    Tới mức không nơi đâu ở bất cứ vùng nào
    Lại có vị chúa tể xuất chúng về mọi mặt như vậy.

    GEOFFREY CHAUCER,
    “Truyện của địa chủ,”
    Những câu chuyện xứ Canterbury (khoảng năm 1395)

    MỞ ĐẦU

    NHÀ CHINH PHỤC MẤT TÍCH
    Thành Cát Tư Hãn là người hành động
    WASHINGTON POST, 1989

    NĂM 1937, linh hồn Thành Cát Tư Hãn đã biến mất khỏi tu viện
    Phật giáo ở miền trung Mông Cổ, bên dòng Nguyệt Giang dưới chân
    dãy núi Shankh ảm đạm, nơi nó được các Lạt Ma trung thành bảo
    vệ và thờ phụng suốt nhiều thế kỷ. Suốt thập niên 1930, khoảng ba
    vạn người Mông Cổ đã chết trong một chuỗi các chiến dịch đàn áp
    văn hóa và tôn giáo bản địa của Liên Xô. Binh lính tàn phá tu viện,
    lần lượt từng nơi một, bắn sư sãi, cưỡng bức nữ tu, đập vỡ vật thờ,
    cướp bóc thư viện, đốt kinh sách, và san bằng các đền thờ. Nghe
    nói có người đã bí mật giải cứu hiện thân của linh hồn Thành Cát Tư
    Hãn khỏi Tu viện Shankh và đưa đi cất giữ ở thủ đô Ulaanbaatar, rồi
    biến mất hẳn ở đó.
    Qua hàng trăm năm, trên những thảo nguyên mênh mang sôi
    động vùng Trung Á, một chiến binh kiêm người chăn gia súc mang
    theo mình một Dải cờ thiêng, gọi là sulde, được làm từ lông các con

    ngựa giống tốt nhất của mình và buộc vào cán một cây giáo, ngay
    dưới phần lưỡi giáo. Mỗi khi dựng trại, chiến binh sẽ cắm dải cờ này
    ngoài cửa lều để tuyên bố danh tính và làm vật bảo hộ vĩnh viễn. Dải
    cờ thiêng luôn được cắm ngoài trời, dưới Thanh thiên Vĩnh hằng mà
    người Mông Cổ tôn thờ. Khi những sợi lông bay trong ngọn gió thảo
    nguyên không ngừng nghỉ, chúng thu năng lượng của gió, của bầu
    trời, của mặt trời, và dải cờ truyền năng lượng này từ thiên nhiên tới
    người chiến binh. Ngọn gió lùa qua sợi lông ngựa thôi thúc những
    ước mơ của người chiến binh và cổ vũ anh ta theo đuổi định mệnh
    của mình. Sợi lông ngựa phất phơ trong gió ra hiệu cho anh ta luôn
    luôn tiến lên phía trước, đẩy anh ta khỏi chốn cũ để tìm đến những
    nơi mới, đến những đồng cỏ tốt hơn, tìm kiếm những cơ hội và thử
    thách mới, để tự tay kiến tạo nên số phận cho đời mình trong thế
    giới này. Mối liên kết giữa một người với Dải cờ thiêng của anh ta
    chặt chẽ đến mức người ta nói rằng khi người ấy chết đi, linh hồn
    chiến binh vĩnh viễn nằm lại trong búi lông ngựa đó. Khi người chiến
    binh còn sống, dải cờ lông ngựa mang theo số phận của anh ta; sau
    khi chết, nó hóa thân thành linh hồn của anh ta. Thể xác nhanh
    chóng bị bỏ lại với tự nhiên, nhưng linh hồn còn sống mãi trong búi
    lông ngựa để tiếp tục truyền cảm hứng cho những thế hệ tương lai.
    Thành Cát Tư Hãn có một dải cờ từ lông ngựa trắng để dùng
    trong thời bình, và một từ lông ngựa đen để dẫn lối trong chiến trận.
    Dải cờ trắng đã sớm biến mất khỏi lịch sử, song dải cờ đen vẫn tồn
    tại để lưu giữ linh hồn ông. Nhiều thế kỷ sau khi ông mất, người dân
    Mông Cổ vẫn thờ phụng dải cờ nơi linh hồn ông yên nghỉ. Vào thế

    kỷ mười sáu, một hậu duệ của ông, Lạt Ma Zanabazar, đã xây dựng
    tu viện với mục tiêu đặc biệt là treo và bảo vệ dải cờ này. Dù mưa
    dông hay bão tuyết, ngoại xâm hay nội chiến, hơn một ngàn vị sư
    theo Hoàng Mạo phái của Phật giáo Tây Tạng đã canh giữ dải cờ
    này với niềm vinh dự lớn lao, nhưng ngay cả họ cũng chẳng phải đối
    thủ của nền chính trị toàn trị thế kỷ hai mươi. Các nhà sư đã bị sát
    hại, và Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn biến mất.
    Định mệnh không trao số phận cho Thành Cát Tư Hãn; tự tay
    ông đã viết nên số phận mình. Khó lòng nghĩ đến chuyện ông có đủ
    ngựa để tết được một Dải cờ thiêng, chứ đừng nói là còn theo dải
    cờ đó đi khắp thế giới. Cậu bé mà sau này trở thành Thành Cát Tư
    Hãn lớn lên trong một thế giới đầy rẫy bạo lực giữa các bộ lạc, bao
    gồm giết chóc, bắt cóc và nô lệ. Là con trai một gia đình bị ruồng bỏ
    tới chết giữa thảo nguyên, cả tuổi thơ ông có lẽ chỉ gặp vài trăm
    người, và không được giáo dục đàng hoàng. Từ bối cảnh khắc
    nghiệt này, ông học được – chi tiết đến kinh hoàng – mọi cung bậc
    cảm xúc của con người: ham muốn, tham vọng và sự tàn bạo. Khi
    còn là một đứa trẻ, ông đã giết người anh cùng mẹ khác cha của
    mình, bị bộ lạc thù địch bắt làm nố lệ, và rồi trốn thoát được.
    Sống trong hoàn cảnh khủng khiếp như vậy, cậu bé đã thể hiện
    bản năng sinh tồn và tự bảo toàn mạng sống, song không bộc lộ
    nhiều hứa hẹn về những thành tựu mà sau này ông đạt được. Lúc
    còn bé, ông sợ chó và rất dễ khóc. Em trai ông khỏe hơn, bắn cung
    và đấu vật cũng hơn ông; người anh cùng mẹ khác cha thường sai

    bảo và trêu chọc ông. Thế nhưng, từ xuất thân hèn kém như vậy –
    thường xuyên phải chịu đói, chịu nhục, bị bắt cóc và làm nô lệ – ông
    bắt đầu chặng đường dài vươn tới quyền lực. Trước khi tới tuổi dậy
    thì, ông đã có được hai mối quan hệ quan trọng nhất đời mình. Ông
    thề kết nghĩa và trung thành vĩnh viễn với một cậu bé hơn ông ít
    tuổi, người trở thành bạn thân nhất của ông thời niên thiếu, và kẻ
    thù lớn nhất khi cả hai trưởng thành; và ông tìm thấy cô gái mà ông
    yêu thương suốt đời, người ông chọn làm mẹ của mọi hoàng đế sau
    này. Tuổi trẻ của Thành Cát Tư Hãn chứa đựng cả tình bạn và sự
    thù địch – sự giằng xé này kéo dài xuyên suốt cả cuộc đời, và trở
    thành nét quyết định tính cách của ông. Những câu hỏi đẩy dằn vặt
    về tình yêu và tình phụ tử sinh ra từ dưới một tấm chăn đắp chung
    hay trong ánh lửa chập chờn của bếp sưởi gia đình, đã được phóng
    chiếu lên sấn khấu rộng lớn của lịch sử thế giới. Mục tiêu, ước
    nguyện, và nỗi sợ của cá nhân ông bao trùm cả địa cầu.
    Từ năm này qua năm khác, ông dần đánh bại hết những người
    quyền lực hơn mình, cho tới khi chinh phục được mọi bộ lạc trên
    thảo nguyên Mông Cổ. Ở tuổi năm mươi, khi phần lớn những nhà
    chinh phục vĩ đại đã bỏ những năm tháng chinh chiến lại đằng sau,
    Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn lại vẫy gọi ông rời khỏi quê
    hương xa xôi để đối đầu với đội quân của các dân tộc văn minh,
    những kẻ đã sách nhiễu và nô dịch các bộ lạc du mục suốt nhiều thế
    kỷ. Trong những năm còn lại của cuộc đời, ông đi theo Dải cờ thiêng
    ấy tới những thắng lợi liên tiếp, vượt qua sa mạc Gobi* và sông
    Hoàng Hà, tới các vương quốc ở Trung Hoa, qua miền đất Trung Á

    của người Turk và Ba Tư, và vượt các dãy núi của Afghanistan tới
    sông Ấn.
    Trong các cuộc chinh phạt nối tiếp nhau, quân Mông Cổ biến
    chiến tranh thành một sự kiện xuyên lục địa với giao tranh diễn ra
    trên nhiều mặt trận trải dài nhiều ngàn dặm. Kỹ thuật chiến đấu sáng
    tạo của Thành Cát Tư Hãn biến các hiệp sĩ giáp sắt nặng nề của
    châu Âu trung cổ thành thứ lỗi thời, và thay thế họ bằng kỵ binh có
    kỷ luật di chuyển thành từng nhóm phối hợp. Thay vì lệ thuộc vào
    những công sự phòng thủ, ông tận dụng tài tình tốc độ và sự bất
    ngờ trên chiến trường, cũng như hoàn thiện công thành chiến đến
    mức chấm dứt luôn thời đại của các thành phố có tường bao. Thành
    Cát Tư Hãn không chỉ dạy quân của ông chinh chiến ở những
    khoảng cách không tưởng, mà còn hướng dẫn họ duy trì chiến dịch
    của mình qua nhiều năm, nhiều thập niên, và cuối cùng, qua hơn ba
    thế hệ chiến đấu không ngừng nghỉ.
    Trong vòng hai mươi lăm năm, quân đội Mông Cổ đã chiếm
    được nhiều đất và người hơn người La Mã trong suốt bốn trăm
    năm. Thành Cát Tư Hãn, cùng với các con và cháu của mình, đã hạ
    gục những nền văn minh đông dân nhất của thế kỷ mười ba. Dù tính
    theo số lượng người bại trận, tổng số quốc gia bị thôn tính, hay tổng
    diện tích đất bị chiếm đóng, Thành Cát Tư Hãn đều đã chinh phục
    nhiều hơn gấp bội so với bất kỳ người nào khác trong lịch sử. Vó
    ngựa quân Mông Cổ đã làm toé nước mọi sông hồ từ Thái Bình
    Dương tới Địa Trung Hải. Khi cực thịnh, đế quốc này bao trùm một

    khu vực trải khắp 11 tới 12 triệu dặm vuông liên tiếp, bằng diện tích
    châu Phi và lớn hơn nhiều Bắc Mỹ – bao gồm Hoa Kỳ, Canada,
    Mexico, Trung Mỹ và vùng đảo Caribe hợp lại. Nó trải từ lãnh
    nguyên Siberia tuyết phủ tới đồng bằng nhiệt đới Ấn Độ, từ cánh
    đồng lúa gạo Việt Nam tới cánh đồng lúa mì Hungary, từ bán đảo
    Triều Tiên tới bán đảo Balkan. Phần lớn con người ngày nay sống ở
    các nước từng bị quân Mông Cổ xâm chiếm; trên bản đồ hiện đại,
    cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn bao gồm ba mươi quốc gia
    với hơn ba tỉ dân. Khía cạnh bất ngờ nhất của thành tựu này là toàn
    bộ bộ lạc Mông Cổ dưới trướng ông chỉ vỏn vẹn khoảng một triệu
    người, ít hơn số nhân công của nhiều công ty ngày nay. Từ một triệu
    người này, ông tuyển ra không tới mười vạn lính – dễ dàng chứa
    được trong các sân vận động lớn của thời hiện đại.
    Nói theo kiểu Mỹ, thành tựu của Thành Cát Tư Hãn có thể hiểu
    theo cách là nước Mỹ, thay vì được sáng lập bởi một nhóm thương
    nhân có học và chủ đồn điền giàu có, thì lại là do một tên nô lệ
    không biết chữ, chỉ nhờ nhân cách, sức lôi cuốn, và quyết tâm, đã
    giải phóng Hoa Kỳ khỏi sự cai trị của ngoại bang, đoàn kết dân
    chúng, tạo ra bảng chữ cái, viết hiến pháp, đề ra tự do tôn giáo toàn
    diện, sáng tạo ra hệ thống chiến tranh kiểu mới, đưa quân đội hành
    quân từ Canada tới Brazil, và mở đường thông thương trong một
    khu vực thương mại tự do xuyên suốt nhiều châu lục. Trên mọi cấp
    độ và từ mọi phương diện, quy mô và phạm vi của những thành tựu
    của Thành Cát Tư Hãn thách thức các giới hạn của trí tưởng tượng
    và mọi phương pháp lý giải hàn lâm.

    Khi kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn tràn qua thế kỷ mười ba, ông
    đã vẽ lại ranh giới của thế giới. Công trình của ông không phải bằng
    đá, mà là bằng các quốc gia. Không bằng lòng với một số lượng lớn
    các tiểu vương quốc, ông hợp nhất nhiều nước nhỏ thành các nước
    lớn hơn. Ở Đông Âu, quân Mông Cổ thống nhất một tá các tiểu
    vương quốc Slav và thành phố thành một nước Nga rộng lớn. Ở
    Đông Á, qua ba thế hệ, họ tạo ra Trung Hoa bằng cách đan lại với
    nhau những tàn tích của nhà Tống ở phía nam với vùng đất của
    người Nữ Chân* ở Mãn Châu, Tây Tạng ở phía tây, Tây Hạ* tiếp
    giáp sa mạc Gobi, và đất của người Duy Ngô Nhĩ* ở phía đông
    Turkistan*. Khi người Mông Cổ mở rộng khu vực cai trị, họ tạo ra
    những quốc gia như Triều Tiên và Ấn Độ. Những nước này vẫn tồn
    tại tới ngày nay, với đường biên giới gần như không thay đổi từ khi
    được người Mông Cổ tạo ra.
    Đế chế của Thành Cát Tư Hãn liên kết và hợp nhất các nền văn
    minh quanh ông thành một trật tự thế giới mới. Khi ông chào đời
    năm 1162, Cựu Thế giới là một chuỗi các nền văn minh địa phương
    hoàn toàn không biết gì về các nền văn minh khác ngoài những
    nước láng giềng gần gũi nhất. Không ai ở Trung Hoa biết tới châu
    Âu, cũng như không ai ở châu Âu từng nghe tới Trung Hoa, và theo
    như hiểu biết thời bấy giờ, chưa có ai từng đi lại giữa hai nơi đó cả.
    Tới khi qua đời năm 1227, ông đã kết nối hai nơi này bằng những
    mối liên lạc ngoại giao và thương mại bền vững tới bây giờ.

    Bằng cách đập vỡ hệ thống phong kiến coi trọng quyền lợi quý
    tộc và xuất thân, ông đã xây dựng một hệ thống mới và độc đáo dựa
    trên năng lực cá nhân, lòng trung thành và thành tích. Ông tập hợp
    những thị trấn buôn bán rời rạc và trì trệ dọc theo Con đường Tơ lụa
    và sắp xếp chúng thành khu vực thương mại tự do lớn nhất lịch sử.
    Ông cắt giảm thuế cho tất cả mọi người, và bỏ hẳn sưu thuế với bác
    sĩ, thầy dạy học, thầy tu và các cơ sở giáo dục. Ông thực hiện điều
    tra dân số đều đặn, và tạo ra hệ thống thư tín quốc tế đầu tiên. Đế
    chế của ông không tích trữ của cải và kho báu; trái lại, ông phân
    phát rộng rãi của cải thu được trong chiến đấu để chúng có thể quay
    lại thông thương. Ông thiết lập một bộ luật quốc tế và tuyên bố luật
    Thanh thiên Vĩnh hằng tối cao với mọi người dân. Vào thời điểm hầu
    hết vua chúa đều đặt mình lên trên pháp luật, Thành Cát Tư Hãn
    cương quyết rằng trước pháp luật vua chúa cũng chịu trách nhiệm
    bình đẳng như người chăn gia súc hèn kém nhất. Ông công nhận tự
    do tôn giáo trong lãnh địa của mình, cho dù ông đòi hỏi lòng trung
    thành tuyệt đối từ mọi thần dân đã hàng phục, bất kể họ theo tôn
    giáo nào. Ông tin vào pháp quyền và bãi bỏ việc tra tấn, nhưng ông
    thực hiện các chiến dịch lớn để tìm và giết những kẻ lục lâm thảo
    khấu và thích khách. Ông không chấp nhận giữ con tin và, thay vào
    đó, thiết lập tập tục hoàn toàn mới là miễn trừ ngoại giao với mọi sứ
    thần và sứ giả, bao gồm cả những người đến từ các quốc gia thù
    địch đang chiến tranh với ông.
    Thành Cát Tư Hãn để lại cho đế chế của ông một nền tảng vững
    chãi tới mức nó tiếp tục lớn mạnh trong vòng 150 năm sau đó. Sau

    đó, trong hàng trăm năm sau khi đế quốc ấy sụp đổ, hậu duệ của
    ông tiếp tục cai trị nhiều đế quốc nhỏ và quốc gia lớn, từ Nga, Thổ
    Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, tới Trung Hoa và Ba Tư. Họ có nhiều tước hiệu
    khác nhau, như hãn, hoàng đế, sultan, vua, shah, emir và Đạt Lai
    Lạt Ma*. Di sản đế chế này còn được hậu duệ của ông cai trị suốt
    bảy thế kỷ. Nhiều người Mogul đứng đầu Ấn Độ tới năm 1857, khi
    người Anh phế bỏ Hoàng đế Bahadur Shah II và chặt đầu hai con
    trai và cháu trai ngài. Hậu duệ tại vị cuối cùng của Thành Cát Tư
    Hãn, Alim Khan, emir của Bukhara, tiếp tục cầm quyền ở Uzbekistan
    tới khi bị làn sóng Cách mạng Nga dâng cao lật đổ năm 1920.

    Trong lịch sử, hầu hết các nhà chinh phục đều phải chịu cái chết
    sớm và bi thảm. Ở tuổi ba mươi ba, Alexander Đại Đế qua đời một
    cách bí hiểm ở Babylon, trong khi những kẻ phục tùng ông sát hại
    cả gia đình ông và chia chác đất đai. Julius Caesar bị những người
    cùng dòng dõi quý tộc với ông và đồng minh cũ đâm tới chết trong
    phòng của Viện Nguyên lão La Mã. Sau khi phải nhìn thấy mọi chiến
    tích chinh phục của mình bị hủy hoại và đảo ngược, Napoleon, cô
    độc và cay đắng, một mình đối diện với cái chết khi bị biệt giam ở
    một trong những hòn đảo xa xôi cách trở nhất hành tinh. Thế nhưng,
    Thành Cát Tư Hãn, khi đó đã gần bảy mươi tuổi, đã mất trên chiếc
    giường cắm trại của mình, giữa vòng vây đầy yêu thương của gia
    đình, thân tín, và quân lính trung thành sẵn sàng mạo hiểm tính

    mạng theo lệnh của ông. Mùa hè năm 1227, trong chiến dịch chống
    lại Tây Hạ ở thượng lưu sông Hoàng Hà, Thành Cát Tư Hãn đã qua
    đời – hay, theo cách nói của người Mông Cổ, những người cấm kị
    việc nhắc tới chết chóc hay bệnh tật, ông đã “lên thiên đường.”
    Nhiều năm sau cái chết của ông, lý do ông mất vẫn không được tiết
    lộ, dẫn đến nhiều lời đồn đoán mà sau này trở thành truyền thuyết,
    để rồi theo dòng chảy thời gian biến thành sự thật lịch sử. Plano di
    Carpini, sứ giả cháu Âu đầu tiên tới Mông Cổ, ghi lại rằng Thành Cát
    Tư Hãn chết vì bị sét đánh. Marco Polo, nhà thám hiểm đã có nhiều
    chuyến đi khắp Đế chế Mông Cổ dưới thời Hốt Tất Liệt – cháu của
    Thành Cát Tư Hãn, kể lại rằng ông qua đời sau khi bị tên đâm trúng
    đầu gối. Một số người cho rằng kẻ thù không rõ danh tính đã đầu
    độc ông. Có nguồn lại khẳng định ông đã chết vì phép thuật của vua
    Tây Hạ khi đang giao chiến. Một câu chuyện được những kẻ chỉ
    trích ông lan truyền nói rằng khi bị ông bắt giữ, hoàng hậu Tây Hạ
    đã đưa một vật lạ vào vùng kín nhằm kéo đứt bộ phận sinh dục của
    Thành Cát Tư Hãn khi quan hệ với bà, và ông đã chết trong đau đởn
    cùng cực.
    Trái ngược với những câu chuyện về cái chết của ông, việc
    Thành Cát Tư Hãn chết trong căn lều ger của người du mục, về cơ
    bản là tương tự như nơi ông ra đời, cho thấy thành công của ông
    trong việc bảo tồn lối sống truyền thống của dân tộc mình; song, bất
    ngờ là bằng cách bảo tồn lối sống của mình, ông đã thay đổi xã hội
    loài người. Quân lính của Thành Cát Tư Hãn hộ tống thi thể vị hãn
    của họ về quê hương Mông Cổ để bí mật chôn cất. Sau khi chết,

    ông được những người theo hầu an táng vô danh trên mảnh đất quê
    hương, không lăng tẩm, đền đài, kim tự tháp, hay thậm chí là cả một
    tấm bia nhỏ đánh dấu nơi ông nằm lại. Theo tín ngưỡng Mông Cổ,
    thân thể người chết nên được để trong yên bình, không cần lăng
    mộ, vì linh hồn họ không còn đó nữa mà sẽ sống tiếp trong Dải cờ
    thiêng. Khi được mai táng, Thành Cát Tư Hãn thẩm lặng biến mất
    vào cõi thinh không mênh mang của miền đất Mông Cổ quê hương.
    Không ai biết nơi an nghỉ cuối cùng của ông ở đâu, song bởi không
    có nguồn tư liệu xác thực nhiều người đã tự tay viết nên lịch sử và
    thêm thắt nhiều chi tiết kịch tính. Một câu chuyện thường được nhắc
    lại là trong chuyến hành trình dài bốn mươi ngày, quân lính trong
    đoàn đưa tang ông đã giết toàn bộ người và thú vật mà họ gặp trên
    đường, và sau đám tang bí mật, tám trăm kỵ binh đã cưỡi ngựa
    giẫm lên khu vực chôn cất nhiều lần để che giấu nơi đặt mộ. Sau đó,
    theo lời kể đầy sáng tạo này, những kỵ binh này đã lại bị giết bởi
    một toán lính khác nhằm đảm bảo họ không thể chỉ điểm nơi này; và
    rồi những người lính này lại bị một nhóm chiến binh khác giết.
    Sau khi ông được chôn cất bí mật ở quê nhà, quân lính cho
    phong toả cả khu vực rộng vài trăm dặm vuông này. Không ai có thể
    vào trừ người nhà Thành Cát Tư Hãn và một nhóm chiến bính tinh
    nhuệ đóng quân ở đó nhằm hạ sát mọi kẻ xâm nhập. Trong gần tám
    trăm năm, khu vực này – gọi là Ikh Khorig, vùng Đại Cấm địa nằm
    sâu trong lòng châu Á – luôn đóng cửa im lìm. Mọi bí mật về đế chế
    của Thành Cát Tư Hãn dường như đã bị khoá lại trong quê hương
    thần bí của ông. Rất lâu sau khi Đế chế Mông Cổ sụp đổ, và khi một

    phần nước Mông Cổ đã bị ngoại bang xâm chiếm, người Mông Cổ
    vẫn ngăn cản bất kỳ ai đặt chân vào vùng đất linh thiêng của tổ tiên
    họ. Dù người Mông Cổ cuối cùng đã cải sang đạo Phật, những
    người nối ngôi Thành Cát Tư Hãn vẫn không cho phép các nhà sư
    xây điện thờ, tu viện, hay đài tưởng niệm để đánh dấu mộ của ông.
    Vào thế kỷ hai mươi, để đảm bảo nơi sinh và mất của Thành Cát
    Tư Hãn không trở thành địa điểm tập kết của các nhà dân tộc học,
    những người đứng đầu Liên Xô đã canh gác nơi đây rất cẩn mật.
    Thay vì Đại Cấm địa hay bất kỳ tên gọi lịch sử nào có thể gợi nhắc
    tới Thành Cát Tư Hãn, Liên Xô đặt cho nơi đây cái tên hành chính
    Khu vực Hạn chế Cao. Về mặt hành chính, họ tách biệt nơi này với
    các tỉnh lân cận và đặt nó dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính
    quyền trung ương – vốn chịu sự điều khiển nghiêm ngặt của
    Moskva. Hơn nữa, Khu vực Hạn chế Cao rộng một triệu hecta này
    còn được bao quanh bởi một Khu vực Hạn chế cũng lớn tương tự.
    Để ngăn chặn việc đi lại, chính quyền không xây dựng đường sá và
    cầu cống ở đây. Giữa Khu vực Hạn chế và thủ đô Ulaanbaatar, Liên
    Xô duy trì một căn cứ không quân MiG cực kỳ kiên cố, và khả nâng
    cao là cả một nhà kho chứa vũ khí hạt nhân. Một căn cứ xe tăng
    Liên Xô lớn chặn lối vào khu vực cấm, và quân đội Nga sử dụng nơi
    này để luyện tập sử dụng pháo và diễn tập xe tăng.

    Người Mông Cổ không tạo ra đột phá về kỹ thuật, không sáng
    lập ra tôn giáo mới, viết rất ít sách và kịch, và không để lại cho thế
    giới giống cây trồng hay phương pháp nông nghiệp nào mới. Thợ
    thủ công của họ không biết dệt vải, đúc kim loại, làm gốm, hay thậm
    chí nướng bánh mì. Họ không làm ra đồ gốm hay sứ, không vẽ
    tranh, và không xây công trình kiến trúc nào. Ấy vậy mà, nhờ liên
    tiếp chinh phục các nền văn hóa, quân đội của họ đã thu thập và
    truyền lại những kỹ năng này từ nền văn minh này tới nền văn minh
    khác.
    Công trình cố định duy nhất mà Thành Cát Tư Hãn xây dựng là
    những cây cầu. Dù ông cự tuyệt việc xây lâu đài, thành trì, thành
    phố, hay tường thành, vì phải di chuyển khắp nơi, có lẽ ông đã xây
    nhiều cầu hơn bất kỳ người lãnh đạo nào khác trong lịch sử. Ông
    bắc cầu qua hàng trăm sông suối để giúp quân đội và hàng hóa lưu
    thông dễ hơn. Người Mông Cổ chủ đích mở cửa thế giới để đến với
    một ngành buôn bán mới, không chỉ về hàng hóa, mà còn về tư
    tưởng và kiến thức. Người Mông Cổ đưa thợ mỏ người German tới
    Trung Hoa, và bác sĩ Trung Hoa tới Ba Tư. Những lần thuyên
    chuyển có khi có ý nghĩa to lớn, cũng có lúc không đáng kể. Họ
    truyền bá việc dùng thảm tới mọi nơi họ đặt chân tới, mang chanh
    và cà rốt từ Ba Tư tới Trung Hoa trồng, đem mì sợi, bài Tây và trà từ
    Trung Hoa tới phương Tây. Họ đưa một người thợ rèn từ Paris tới
    thảo nguyên Mông Cổ khô cằn để xây đài phun nước, tuyển một quý
    tộc Anh quốc làm phiên dịch trong quân đội, và mang tục lấy dấu
    vân tay của người Hoa tới Ba Tư. Họ cấp tiền xây dựng nhà thờ Ki-

    tô giáo ở Trung Hoa, đền và tháp Phật giáo ở Ba Tư, và trường kinh
    Koran Hồi giáo ở Nga. Quân Mông Cổ càn quét khắp thế giới với tư
    cách là những kẻ chinh phạt, nhưng cũng là những người chuyên
    chở văn hóa độc nhất vô nhị của nền văn minh.
    Những người Mông Cổ kế thừa đế chế của Thành Cát Tư Hãn
    đã cương quyết nỗ lực luân chuyển vật phẩm và hàng hóa, cũng
    như kết hợp chúng để tạo ra những sản phẩm hoàn toàn mới và các
    phát minh chưa từng có. Khi những thợ lành nghề từ Trung Hoa, Ba
    Tư và châu Âu kết hợp thuốc súng của Trung Hoa với súng phun
    lửa của người Hồi giáo và áp dụng kỹ thuật đúc chuông của châu
    Âu, họ đã chế tạo được súng thần công, một trật tự tiến bộ khoa học
    kỹ thuật hoàn toàn mới. Từ súng lục tới tên lửa, một phần lớn của
    kho vũ khí hiện đại đều bắt nguồn từ đây. Dù mỗi vật dụng đều ít
    nhiều quan trọng, chúng chỉ có ảnh hưởng lớn nhờ cách người
    Mông Cổ chọn lựa và kết hợp các kỹ thuật để làm ra các sản phẩm
    lai ghép lạ thường.
    Người Mông Cổ luôn bền bỉ thể hiện tấm lòng nhiệt huyết với
    chủ nghĩa quốc tế qua những nỗ lực chính trị, kinh tế và tri thức của
    họ. Họ không chỉ đơn giản có tham vọng thống trị thế giới, mà còn
    muốn thiết lập một trật tự toàn cầu dựa trên tự do thông thương, một
    bộ luật quốc tế đơn nhất, và một bảng chữ cái phổ quát có thể dùng
    để viết mọi ngôn ngữ. Hốt Tất Liệt, cháu trai của Thành Cát Tư Hãn,
    cho lưu hành một đơn vị tiền giấy để dùng khắp mọi nơi, và dự định
    mở trường tiểu học để phổ cập giáo dục phổ thông cho trẻ em để

    mọi người dân đều biết chữ. Người Mông Cổ hoàn thiện và kết hợp
    các loại lịch để làm ra lịch vạn niên chính xác hơn các loại lịch trước
    đó, và tài trợ để làm ra những tấm bản đồ bao quát nhất thời ấy.
    Người Mông Cổ khuyến khích lái buôn đi đường đất liền tới đế quốc
    của họ, và gửi nhà thám hiểm vượt đất liền và biển khơi tới những
    nơi xa xôi như châu Phi để mở rộng phạm vi thương mại và ngoại
    giao.
    Ở gần như mọi quốc gia mà người Mông Cổ đặt chân tới, sự tàn
    phá ban đầu cùng cơn sốc bị một bộ lạc xa lạ và man rợ chinh phục
    nhanh chóng nhường đường cho tăng trưởng chưa từng thấy trong
    trao đổi văn hóa, mở rộng thông thương, và tiến bộ trong văn minh.
    Ở châu Âu, quân Mông Cổ tàn sát tầng lớp hiệp sĩ quý tộc của châu
    lục này, nhưng, thất vọng vì sự nghèo đói của khu vực so với các
    nước Trung Hoa và Hồi giáo, đã rời đi mà không buồn chiếm đóng
    thành phố, cướp bóc đất nước, hay sáp nhập chúng vào đế chế
    đang ngày càng lớn mạnh. Sau cùng, châu Âu chịu thương vong ít
    nhất, song lại có được mọi lợi thế từ các đầu mối liên lạc là các
    thương nhân như gia đình Polo ở Vénice, và các sứ giả trao đổi
    giữa các vị hãn Mông Cổ và giáo hoàng cũng như vua của châu Âu.
    Những kỹ thuật, kiến thức và của cải mới này đã bắt đầu thời kỳ
    Phục hưng, giúp châu Âu tìm lại một phần nền văn hóa xưa kia,
    nhưng quan trọng hơn, thời kỳ này đã tiếp nhận các kỹ thuật in ấn,
    vũ khí, la bàn và bàn tính từ phương Đông. Như nhà khoa học
    người Anh Roger Bacon ở thế kỷ mười ba đã nhận xét, người Mông
    Cổ thành công không chỉ nhờ chiến thuật ưu việt, mà “họ đã thành

    công bằng phương pháp khoa học.” Dù người Mông Cổ “hiếu
    chiến,” họ đã tiến xa đến vậy vì “họ đã dành thời gian cho các
    phương châm triết học.”
    Gần như mọi khía cạnh của đời sống Âu châu – công nghệ,
    chiến tranh, phục trang, buôn bán, ẩm thực, nghệ thuật, vân học và
    âm nhạc – đều thay đổi dưới thời Phục hưng vì chịu ảnh hưởng của
    Mông Cổ. Bên cạnh những hình thức giao chiến mới, máy móc mới,
    và món ăn mới, ngay cả những yếu tố tầm thường nhất của đời
    sống hằng ngày cũng thay đổi vì người châu Âu đổi sang dùng vải
    Mông Cổ, mặc quần và áo khoác thay vì áo chẽn và áo choàng,
    dùng cây vĩ để chơi nhạc cụ thay vì gảy ngón tay, và vẽ tranh theo
    phong cách mới. Người châu Âu còn học câu cảm thán hurray của
    người Mông Cổ để khuyến khích lòng can đảm và cổ vũ lẫn nhau.
    Với nhiều thành tựu như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi
    Geoffrey Chaucer*, nhà thơ Anh ngữ đầu tiên, đã dành câu chuyện
    dài nhất trong cuốn Những câu chuyện xứ Canterbury cho nhà chinh
    phục người Á Thành Cát Tư Hãn. Ông viết về Thành Cát Tư Hãn và
    các chiến công của ông với lòng ngưỡng mộ không che giấu. Thế
    nhưng trên thực tế, chúng ta lại bất ngờ khi biết rằng người Mông
    Cổ, những người bị phần còn lại của thế giới ngày nay xem như bọn
    man rợ khát máu chính hiệu, lại được các học giả thời Phục hưng
    nhận xét như vậy. Chân dung người Mông Cổ được Chaucer hay
    Bacon vẽ nên khác xa những hình ảnh ta biết từ những cuốn sách
    hay bộ phim sau này khắc họa Thành Cát Tư Hãn và đội quân của

    ông như đám người tàn bạo thèm khát vàng bạc châu báu, phụ nữ
    và máu.
    Dù sau này có rất nhiều hình ảnh và tranh vẽ Thành Cát Tư Hãn,
    khi còn sống ông không có một bức chân dung nào. Không như các
    nhà chinh phạt khác, Thành Cát Tư Hãn không bao giờ cho phép ai
    vẽ chân dung, đúc tượng, hay khắc tên hay hình ảnh ông lên đồng
    xu, và những gì người đương thời miêu tả về ông thường gây tò mò
    nhiều hơn là dựa trên thực tế. Xin trích lời một ca khúc Mông Cổ
    hiện đại về Thành Cát Tư Hãn, “chúng con tưởng tượng hình ảnh
    người nhưng tâm trí chúng con trống rỗng.”
    Vì không có chân dung hay ghi chép nào của người Mông Cổ về
    Thành Cát Tư Hãn, thế giới được tự do tưởng tượng về ông như ý
    muốn. Không ai dám vẽ hình ông cho tới nửa thế kỷ sau khi ông
    mất, và sau đó mỗi nền văn hóa lại có một hình ảnh riêng về ông.
    Trong con mắt người Trung Hoa, đó là một ông bác già với chòm râu
    thưa và đôi mắt trống rỗng, tựa như...
     
    Gửi ý kiến