TRÍCH DẪN HAY VỀ SÁCH

“Những cuốn sách đưa ta vào trạng thái mê say tận tâm, chúng tương tác với ta, mang lại lời khuyên và kết nối với ta qua một mối quan hệ sống động và mạch lạc" (H.Godefroy)

TÀI NGUYÊN THÔNG TIN

LƯỢT TRUY CẬP

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • THƯ VIỆN BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

    THÀNH VIÊN TRỰC TUYẾN

    1 khách và 0 thành viên

    Học Bác mỗi ngày. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo

    Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

    SỬ KÝ TƯ MÃ THIÊN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Sưu tầm
    Người gửi: Trần Hoàng Giang
    Ngày gửi: 09h:38' 28-12-2023
    Dung lượng: 2.6 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    SỬ KÝ TƯ MÃ THIÊN
    Tác giả: Tư Mã Thiên
    Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
    Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
    Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
    Xuất Bản

    Sử Ký Tư Mã Thiên, Lời giới thiệu
    Đối với văn hoá thế giới, quyển sử ký của Tư Mã Thiên chiếm một địa vị đặc biệt. Nó
    là công trình sử học lớn nhất của Trung quốc và là một trong những quyển sử có
    tiếng nhất của thế giới. Nhưng còn một điều làm chúng ta ngạc nhiên hơn là công
    trình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là một trong những tác phẩm văn học ưu tú
    của nhân loại. Người Trung hoa xem nó là tác phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền
    văn học cổ Trung quốc, và xem nó là tác phẩm cổ điển ngang hàng với thơ của Đỗ
    Phủ.
    Sử ký là cả một thế giới. Nó làm thoả mãn tất cả mọi người. Người nghiên cứu sử tìm
    thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với giá trị tổng hợp rất cao. Nhà nghiên
    cứu tư tưởng tìm thấy qua Sử ký “một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời
    cổ đại” (1). Người bình thường tìm thấy vô số những hình tượng điển hình, những câu
    chuyện hấp dẫn, những con người đầy sức sống mãnh liệt. Họ thấy quá khứ sống lại
    và không phải chỉ có thế. Người nghiên cứu văn học còn tìm thấy ở đấy một tác phẩm
    văn học, mãi mãi tươi trẻ như sự sống, họ thấy ở đấy một tâm hồn, một tâm sự đau xót
    đầy sức mạnh của thơ trữ tình, “một tập Ly tao không vần” như lời đánh giá của Lỗ
    Tấn.
    -----------------------1. Bách khoa toàn thư xô-viết mục : Sử ký.
    I. CON NGƯỜI
    Tư Mã Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 trước Công nguyên, ở Long Môn hay
    là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời Chu đã làm Thái sử. Đến
    đời cha của ông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán. Đàm là một người học
    rất rộng, rất thích học thuyết Lão Trang. Chức sử quan ngoài việc chép sử còn coi
    thiên văn, làm lịch, bói toán. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần

    với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế
    tục vẫn coi thường”. Tuy vậy, Tư Mã Đàm vẫn thấy cái nghề của mình cao quý, vì ông
    biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một nước. Trong các sử
    quan đời trước, cũng có những người dám hy sinh đời mình để viết sự thật, dù sự thật
    ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi Thôi Trữ giết vua Tề, thì quan thái sử nước
    Tề viết : “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công”. Quan thái sử bị giết, người em
    lên thay vẫn viết như vậy, nên bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên thay
    không thêm bớt một chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết. Khổng Tử làm kinh Xuân Thu
    cũng là chép lại những sự thực lịch sử cốt để “chế thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội
    các đại phu, nêu rõ vương đạo.”
    Tư Mã Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn cừu, làm bạn với những
    người nông dân bình thường, và học các sách sử cổ. Lên mười tuổi, ông đã học Tả
    Truyện, Quốc Ngữ, Thế bản và thuộc lòng hầu hết những bài văn nổi tiếng của thời
    trước.
    Tư Mã Đàm hết sức chú ý đến việc giáo dục con. Năm Tư Mã Thiên hai mươi tuổi,
    ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau này Tư Mã Thiên sẽ
    phải viết sử. Tư Mã Thiên trước tiên đi về nam đến Trường Giang, vượt sông Hoài,
    sông Tứ, thăm một mẹ Hàn Tín, đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư
    hầu, vào hang Vũ Động tìm di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những chuyện kể
    về vua Việt, Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ
    sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa, đến
    bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nhìn dấu vết
    mộ vua Thuấn, và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông lên miền Bắc vượt
    sông Vấn, sông Tử đến nước Tề, nước Lỗ, bồi hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say
    sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh
    Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu Bang, để tìm hiểu rõ thời niên thiếu

    của những con người đã dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của
    Xuân Thân Quân, đến nước Nguỵ hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Tràng An.
    Sau chuyến đi ấy kéo dài ba năm, ông còn đi những chuyến khác cũng để tìm tài liệu.
    Trong thời xưa, việc đi lại rất khó khăn, trên đường giặc cướp rất nhiều, những nhà du
    thuyết có bôn ba từ nước này sang nước khác thì cũng chỉ ở trong một địa bàn rất hẹp,
    chứ chưa có ai vì mục đích khoa học mà lại đi xa như vậy. Có thể nói trừ miền Quảng
    Đông, Quảng Tây, còn từ Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn Lý Trường Thành, ở đâu
    cũng có vết chân của ông. Ông là một trong những nhà du lịch lớn nhất của Trung Cổ.
    Những cuộc du lịch đã cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết, giúp ông thấy
    được thái độ của nhân dân đối với những nhân vật, những biến cố lịch sử và cho ông
    rất nhiều chi tiết điển hình về đời sống từng người trong lúc còn hàn vi.
    Chính những cuộc “đi chơi” như vậy đã làm cho Tư Mã Thiên thấy cái bao la hùng vĩ
    của đất nước, có được một ý thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ quốc , về tất cả mọi mặt
    để thành nhà sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mã Tồn một văn sĩ đời sau nói, “Muốn
    học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường.”
    Câu nói đó không phải là quá đáng.
    Sau lúc đi du lịch về, ông làm lang trung. Lang trung là chức quan nhỏ có trách nhiệm
    bảo vệ nhà vua khi đi ra ngoài. Trong thời gian ấy, ông biết Lý Lăng cùng làm lang
    trung như ông, và thường gặp Lý Quảng.
    Năm 110 trước Công Nguyên, Vũ Đế chuẩn bị làm lễ phong thiên ở Thái Sơn, Tư Mã
    Đàm trên đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay con khóc mà dặn rằng :
    - Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào con cũng nối nghiệp ta làm
    thái sử. Khi làm thái sử chớ quên những điều ta muốn bàn, muốn viết… Hiện nay bốn
    biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu
    hổ. Con hãy nhớ lấy !
    Ông khóc mà vâng lời.

    Ba năm mãn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (-108) chuẩn bị viết bộ Sử ký, thực
    hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha, đồng thời là điều mong ước duy nhất của
    mình. Từ - 106, ông không giao tiếp với khách khứa, bỏ cả việc nhà, ngày đêm miệt
    mài biên chép. Như thế được bảy năm thì xảy ra cái vạ Lý Lăng.
    Năm 99 trước Công Nguyên, Vũ Đế sai Lý Quảng Lợi cầm ba vạn quân đánh Hung
    Nô. Bấy giờ Lý Lăng, cháu của danh tướng Lý Quảng, cầm năm ngàn quân vào biên
    giới Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây. Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu suốt
    mười ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng cuối cùng vì cách xa biên giới, bị chặn
    mất đường về, quân sĩ chết hầu hết, mệt mỏi không còn sức chiến đấu, Lăng phải đầu
    hàng. Vũ Đế nổi giận muốn giết cả nhà Lăng, quần thần đều hùa theo ý nhà vua.
    Thiên biết Lăng từ hồi hai người còn làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng
    mến phục Lăng là người can đảm có phong thái của người quốc sĩ, nên tâu :
    - Lý Lăng mang năm nghìn quân thâm nhập vào nước địch, đánh nhau với quân địch
    mạnh, luôn mười ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi Thuyền Vu sợ hãi,
    đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây. Lăng một mình hăng hái chiến đấu ở ngoài
    ngàn dặm, tên hết, đường về bị cắt, cứu binh không đến, người chết và bị thương
    chồng như núi, nhưng nghe Lý Lăng hô hào, binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy
    nước mắt giơ nắm tay không, xông vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần
    cho rằng Lý Lăng có thể sánh với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại,
    nhưng xem ông ta còn muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
    Ông hy vọng lời nói của mình có thể giảm nhẹ tội Lý Lăng, không ngờ Vũ Đế càng
    giận, cho ông cố ý đề cao Lăng để chê Lý Quảng Lợi nhút nhát không lập nên công
    lao gì, mà Quảng Lợi lại là anh của Lý phu nhân rất được nhà vua yêu quý. Vũ Đế
    bèn sai bắt giam Tư Mã Thiên giao cho Đỗ Chu xét xử.
    Nhân vật Đỗ Chu đã được Thiên nói đến trong Khốc lại truyện. Có người trách y,
    “Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào pháp luật mà xét, trái lại

    chỉ lo chìu theo ý nhà vua?” Đỗ Chu đáp, “Luật lệnh ở đâu mà ra ? Chẳng phải do
    nhà vua mà ra đó sao?” Gặp phải bọn quan lại như vậy, cố nhiên ông không có cách
    nào khỏi tội.
    Bấy giờ có phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội
    chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một người bạn cũ sắp bị chém,
    một người cùng chung cảnh ngộ (Xem thư trả lời Nhâm An). Ông đã kể lại nỗi cay
    đắng của mình. Nhà ông nghèo, ông mải mê theo đuổi sự nghiệp của mình quên cả
    gia sản, nên không sao chuộc được tội. Bạn bè, thân thích, không ai nói hộ một lời,
    không ai giúp cho một đồng . Kết quả, con người ngang tàng, hai mươi ba tuổi đầu đi
    khắp Trung quốc, nhà học giả lớn nhất của thời đại, con người ôm cái hoài bão làm
    Chu Công, Khổng Tử, cuối cùng bị khép vào tội “coi thường nhà vua”, và bị thiến !
    Đã mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Những ông thấy rằng nếu chết đi thì
    chẳng ai khen mình là tử tiết, mà thế tục sẽ bảo đó là vì xấu hổ mà tự sát. Vả chăng, sự
    nghiệp chưa tròn, Sử ký còn dở dang, lời dặn của cha còn đó. Ông gạt nước mắt, nói ,
    “Người ta ai cũng có một lần chết, có cái chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ như
    lông hồng”, và cố gắng gượng sống.
    Cái ấn tượng nhục nhã, cô độc theo dõi ông cho đến khi chết. Mỗi khi nghĩ đến cái
    nhục bị hình phạt, mồ hôi vẫn cứ đầm lưng ướt áo! Nhưng ông không vì thế mà chán
    nản. Trái lại, ông càng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Ông thấy rõ hình phạt đó là
    một thử thách đối với những “người trác việc phi thường”. Ông càng thấy cần phải
    viết “cho hả điều căm giận”. Và chính cái hình phạt nhục nhã ấy đã làm cho ông hiểu
    rõ cái mặt trái của xã hội phong kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông trở
    thành nhà sử gia vĩ đại của một nhân dân vĩ đại.
    Quyển Sử ký trước kia là ý nghĩa của đời ông, bây giờ còn là nơi ông giải bày nổi lòng
    uất ức. Càng cảm thấy nhục nhã, ông càng thấy thiết tha với công việc, đem cả tâm
    huyết gửi vào cái tác phẩm vĩ đại, hy vọng rằng dù mình tàn phế, bị ô nhục, nhưng

    quyển sách kia sẽ thay mình nói với cuộc đời.
    Ở ngục ra, ông được làm trung thư lệnh. Đó là một chức quan to, ở gần vua, được ra
    vào cung cấm, xem tất cả các tài liệu mật. Tuy ở chức quan cao như vậy, nhưng ông
    chỉ cảm thấy xấu hổ vì đó là chức quan chỉ dành cho những hoạn quan.
    Hiện nay người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết ông viết bức
    thư trả lời cho Nhâm An năm ông 53 tuổi (-93), và sau đó không có những tài liệu gì
    về ông. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử công hành niên khảo có lẽ ông mất năm
    60 tuổi (-86) cùng một năm với Vũ Đế.
    Quyển Sử ký như tác giả nó nói, không phải viết ra để mưu danh tiếng trước mắt. Sau
    khi ông chết, cũng không mấy ai biết đến nó. Quyển này được cất kỹ mãi đến thời
    cháu ngoại của ông là Dương Vận, thời Tuyên Đế mới được công bố.
    Ngoài Sử ký, ông còn làm một công việc khác cũng rất quan trọng. Năm –104, ông
    cùng Công Tôn Khanh Hồ Toại sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch. Âm lịch còn dùng
    đến ngày nay là công trình của nhóm này, trong đó ông đóng vai trò chủ chốt.
    II. TÁC PHẨM
    Sử ký là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm năm phần : Bản kỷ,
    biểu, thư, thế gia, liệt truyện .
    1. Bản kỷ – chép sự tích của các đế vương, gồm có : Ngũ đế (Hoàng đế, Chuyên Húc,
    Cốc, Nghiêu, Thuấn)
    2. Hạ, Thương, Chu - mỗi thời đại một bản kỷ
    3. Tần hai bản kỷ - một bản kỷ từ khi có nước Tần đến Tần Thuỷ Hoàng; một bản kỷ
    về Tần Thuỷ Hoàng.
    4. Hạng Vũ
    5. Các bản kỷ về nhà Hán : Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ.
    Tất cả có 12 bản kỷ, nhưng hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ. Vương
    Túc đời Nguỵ nói, “Vũ Đế nghe nói ông ta viết Sử ký bèn lấy bản kỷ của Hiếu Cảnh

    và của mình xem, giận lắm vứt đi, cho nên phần này chỉ có mục đề thôi, không viết
    gì”. Về sau Chử Toại Lương lấy những phần này ở quyển Hán Thư của Ban Cố để điền
    vào cho đủ. Điều đó không phải không có lý vì Tư Mã Thiên có thái độ rất nghiêm
    khắc đối với các vua chúa, cũng không kiêng nể gì ông vua đang sống mà ông đã
    công kích mãnh liệt trong phần Phong thiện thư. Chính vì thế, Vương Doãn đời Hậu
    Hán gọi Sử ký là một quyển “báng thư” (một quyển sách phỉ báng). Mục đích của bản
    kỷ là chép lại sự việc của những người, những nước có tác dụng chi phối cả thiên hạ.
    Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông cũng có những điều đời sau không dám nghĩ
    đến. Ông chép riêng lịch sử nước Tần, trước Tần Thuỷ Hoàng thành một bản kỷ, vì
    trong thời Chiến quốc, nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước . Ông
    làm bản kỷ Lữ Hậu, mặc dầu Lữ Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị vì trên danh nghĩa.
    Trái lại, ông không làm bản kỷ của Huệ Đế, mặc dù trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn là
    vua. Đó là vì, tuy Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay Lữ
    Hậu. Đặt một người đàn bà lên địa vị “kỷ cương” một nước, là điều không một sử gia
    nào đời sau dám làm. Táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ những trang đẹp nhất,mặc
    dù Hạng Vũ chưa làm đế, là kẻ thù của nhà Hán. Đó cũng là vì ông tôn trọng sự khách
    quan. Hạng Vũ tuy về danh nghĩa không phải là người làm chủ các chư hầu đánh lại
    nhà Tần (đó là địa vị của Nghĩa đế), nhưng trong thực tế, người có công lớn nhất
    trong việc tiêu diệt nhà Tần, người phong đất cho chư hầu cai trị thiên hạ trong năm
    năm, chính là Hạng Vũ. Các bản kỷ cung cấp cho người đọc, cái nhìn khái quát về
    từng thời đại để sau đó đi sâu vào từng sự kiện và từng nhân vật.
    2. Biểu : Để có cái nhìn đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ
    vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mã Thiên lập ra mười biểu gồm có :
    1. Thế biểu thời tam đại
    2. Niên biểu mười hai nước chư hầu.
    3. Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc

    4. Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở.
    5. Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán.
    6. Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ
    7. Niên biểu các nước chư hầu thời Huệ Đế và Cảnh Đế.
    8. Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên.
    9. Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế.
    10. Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên.
    Những bản biểu là những công trình khoa học rất quý, ghi chép, năm, tháng, biến cố,
    giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và sự tương quan của nó về
    thời gian cũng như về không gian với các sự kiện khác, đặc biệt ở trong một nước
    mênh mông lại chia cắt phân tán như Trung quốc cổ.
    3. Thư : Lịch sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mã Thiên
    nhận thấy điều đó nên viết tám “thư” dành cho tám mặt. Điều này cũng biểu hiện rằng
    ông có một kiến thức bách khoa. Tám thư ấy là :
    1. Lễ thư
    2. Nhạc thư
    3. Luật thư
    4. Lịch thư
    5. Thiên quan thư
    6. Phong thiện thư
    7. Hà cừ thư
    8. Bình chuẩn thư
    Phần này rất quý về mặt nghiên cứu. Tác giả nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về
    lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn, v…v… qua các thời đại. Điều làm chúng ta
    hết sức ngạc nhiên là ông có những hiểu biết chính xác về mọi mặt và ở đâu ông cũng
    có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên “Phong thiện thư”, nói về những mê

    tín, cúng tế, của vua chúa với một giọng châm biếm chua chát. Thiên “Hà cừ thư” nói
    về các con sông đào ở Trung quốc. Thiên “Bình chuẩn thư” nói về kinh tế. Những
    thiên này viết chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính
    những sai sót trong các sách cổ, nói về những thiết chế xã hội. Chúng làm ta thấy tác
    giả có một cái nhìn duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện kinh
    tế, khoa học, văn hoá đối với lịch sử một nước. Rất tiếc vì phạm vi quyển tuyển tập
    hạn chế, chỉ có thể giới thiệu được thiên “Bình chuẩn thư”, và do đó, không thể nào
    nêu lên được một cái nhìn toàn diện của một bộ óc vĩ đại.
    4. Thế gia : Phần thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu, chẳng
    hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở, v…v… Những người có địa vị lớn trong quý tộc như
    các thái hậu, những người được phong một nước như Chu Công, Thiệu Công, và
    những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình, v…v… Đáng chú ý nhất là
    tác giả xếp vào thế gia hai người thường dân không hề có một tấc đất phong. Đó là
    Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch sử tư tưởng của Trung quốc, và
    Trần Thiệp, anh chàng cố nông đã cầm đầu cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của
    lịch sử dân tộc Hán. Cách nhìn như vậy chứng tỏ một tầm con mắt khác thường.
    5. Liệt truyện : Danh từ này do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên bao gồm
    những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. Đáng để ý trước hết là
    phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung quốc mà ông là người
    đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản khái quát đứng đắn và khoa học
    (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Đại Uyển, Hung Nô). Cố nhiên, một phần
    liệt truyện sẽ dành cho những người tai mắt trong xã hội cũ như những danh tướng
    (Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh), những người làm quan to (Trương Thích Chi,
    Công Tôn Hoằng, v…v..) Điều đáng chú ý nhất ở đây là ông đã nhìn thấy vai trò to
    lớn của những con người bình thường, thường không có chức tước gì nhưng có ảnh
    hưởng vô cùng sâu rộng đối với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích khách,

    trọng nghĩa, khinh tài mà ông đã ghi lại trong những trang sôi nổi (Thích khách Liệt
    truyện, Du hiệp Liệt truyện). Đó là những nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông đã ghi
    lại cuộc đời, hành trang và đánh giá học thuyết (Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh,
    v..v..) Đó là những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Nhu mà ông nêu lên
    giá trị và nhận xét về nghệ thuật. Đó là những thầy thuốc, thầy bói, thậm chí những
    anh hề mà trong con mắt của ông lời nói có thể xếp vào Lục Kinh. Và cố nhiên một
    con người yêu nhân dân và sự thật như Tư Mã Thiên không thể nào quên những tên
    sâu, mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn “khốc lại” chỉ lo a dua nhà vua, tàn sát
    dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện mà ông
    mạt sát bằng những lời phẩn nộ. Thế giới của Tư Mã Thiên bao la như vậy! Quy mô
    của tác phẩm làm ta ngợp, bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với những người yêu văn
    học Trung quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác rất lạ. Ở đây có cái biến ảo của Nam
    Hoa Kinh, có cái rạch ròi của Hàn Phí Tử. Nhưng còn một cái nữa mà văn học từ Hán
    trở về trước (trừ Kinh Thi) không thấy có, đó là ý thức bám chắc vào sự thực, không
    rời cuộc sống dù chỉ nửa bước. Chúng ta cảm thấy mình đứng cả hai chân trần trên
    mảnh đất của sự thực.
    Ấn tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là vì Sử ký chính là Tư Mã
    Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.
    III. TƯ TƯỞNG
    Tư Mã Thiên tự định nghĩa mình là một con người “bất cơ”. “Bất cơ” tức là không
    chịu trói buộc mình theo tập tục, vượt ra ngoài lề thói. Chẳng hạn hai mươi tuổi, cha
    còn sống, vẫn cứ “viễn du” đi khắp địa bàn Trung quốc, đó là một hành động bất cơ.
    Nhà vua đặt chức sử quan chẳng qua chỉ để ghi chép việc làm của vua, ăn ở đâu, ngồi
    ở đâu, ngủ ở đâu, nói câu gì, v..v…từng một ngày. Và thế là tròn trách nhiệm. Nhung
    ông lại muốn “nối nghiệp Khổng Tử, soi sáng cho đời, chỉnh lý được Dịch Truyện,
    tiếp tục được Kinh xuân Thu nắm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ,

    Kinh Nhạc, tóm lại ông muốn làm một Khổng Tử thứ hai ngay trong thời đại chuyên
    chế cực độ. Đó cũng là một ý nghĩ “bất cơ”.
    Tư Mã Thiên là con người của một giai đoạn lịch sử rất cụ thể. Lúc ông lên sáu thì
    Hán Vũ Đế lên ngôi, và ông chết cùng một năm với Vũ Đế. Thời Vũ Đế chính là lúc
    uy tín nhà Hán đạt đến cực điểm, biểu lộ tất cả cái vĩ đại, huy hoàng làm người ta
    ngợp mắt. Trong Bình Chuẩn Thư, tác giả đã nói đến cái cảnh tượng phồn thịnh ban
    đầu, kho đạn đầy rẫy, tiền tiêu không thể hết, dân ăn gà, thịt, có ngựa hàng đàn. Uy tín
    nhà Hán đã đạt đến trình độ xưa nay chưa hề có. Biên giới phía Nam đến Nam Việt,
    phía Bắc đến Triều Tiên, buôn bán giao thông với Trung Á, Ấn độ, La Mã. Thành phố
    tấp nập, cung điện nguy nga. Năm – 138 trước Công Nguyên, Trương Khiên đi sứ về
    phía Tây, qua Hung Nô đến tận miền Trung Á thuộc Liên Xô ngày nay (gọi gộp là Tây
    Vực). Nước nhà thống nhất, chế độ tập quyền cực thịnh, tất nhiên đưa đến những sự
    thay đổi về văn hoá. Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư bãi truất bách gia, độc tôn nho
    học. Thời đại “trăm nhà đua tiếng” đến đây chấm dứt. Văn học chuyển thẳng sang
    việc ca ngợi lâu đài, ngựa xe, vườn tược nhà vua, mà tiêu biểu nhất là những bài phú
    của Tư Mã Tương Như. Bấy giờ trước mắt những con người học rộng tài cao có hai
    con đường. Con đường thứ nhất là vứt bỏ cái mộng làm một sự nghiệp to lớn, thừa
    nhận trong hoàn cảnh này chỉ còn một cách là làm một anh hề, sống qua ngày đoạn
    tháng ở trước cửa Kim mã. Đó là con đường của Đông Phương Sóc, của hầu hết tất cả
    các học giả đương thời. Lại có một con đường khác “xét trong khoảng trời đất, thấu
    suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà.” Đó là con đường làm
    một Khổng Tử thứ hai, không phải ở trong hoàn cảnh Xuân Thu, Chiến quốc mà ở
    trong hoàn cảnh chuyên chế cực thịnh. Tư Mã Thiên đã chọn con đường ấy, và điều
    đó cắt nghĩa tại sao con người này sống bơ vơ, lạc lõng, tội nghiệp như vậy.
    Cái gì đã khiến ông làm một việc bất cơ như vậy ? Đó là vì ông thấy mình gắn liền với
    số phận của dân chúng. Ông thấy cái vẻ thái bình, phồn thịnh trước mắt chỉ là tạm

    thời. Bọn vua chúa lợi dụng hoàn cảnh yên ổn càng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân,
    gây chiến tranh để mở rộng đất đai, xây cung thất, dựng lâu đài, tế phong thiên… Cái
    cảnh phồn vinh tan đi như một giấc mơ. Nhân dân nhao nhác cùng cực, bọn khốc lại
    xuất hiện ra sức chém giết, hàng chục vạn người bị tù đày, trong ngoài điêu đứng tan
    hoang, làm cho nhà Hán tưởng chừng sẽ lao theo bánh xe nhà Tần đã mất. Ông không
    thể làm một anh hề như Đông Phương Sóc tìm cách sống an thân hay một thứ nhà văn
    như Tư Mã Tương Như lúc chết còn khuyên nhà vua làm lễ phong thiện. Chính cái
    thời Vũ Đế đã làm cho ông thấy tất cả cái vinh dự được làm con người Trung quốc.
    Nó đưa đến cho ông cái ý thức về sự vĩ đại, bao la và thống nhất của tổ quốc mà ông
    yêu quý. Nhưng càng yêu quý tổ quốc, ông càng gắn bó với nhân dân. Và do đó, bức
    tranh ông vẽ đương thời không phải là một bức tranh khoa trương tráng lệ như một
    bài phú của Trương Như, mà nó đầy vẻ bi hùng. Cái mâu thuẫn đau đớn này trong tư
    tưởng đã đẻ ra cách quan niệm về sử hết sức độc đáo, xứng đáng gọi là một cống hiến
    về tư tưởng. Có thể nói, Tư Mã Thiên là sử gia đầu tiên trên thế giới viết về lịch sử của
    một nước. Trước đấy, ở Trung quốc chỉ có những người viết lịch sử một công quốc
    hay kể lại một vài biến cố quan trọng như Xuân Thu Thượng Thư. Những bộ sử như
    Lịch Sử của Hêrôđôt (481-425). Lịch sử chiến tranh ở Pelpôônne của Thuxiđit (460396) trong văn học Hy Lạp hay Chiến Tranh ở Gôlơ của Xêđa trong văn học La Mã,
    chẳng qua chỉ kể lại một trận đánh hay một chiến dịch.
    Quyển Lịch sử La Mã của Titut Livut (69- 17) sau Sử ký viết toàn bộ lịch sử một đô
    thị, nhưng đó chỉ là lịch sử một đô thị. Sử ký thì khác, nó là lịch sử của toàn bộ dân
    tộc Trung hoa kéo dài trên ba ngàn năm từ Hoàng Đế đến Vũ Đế và bao gồm một địa
    bàn mênh mông. Chính vì có ý thức rất rõ về tính chất thống nhất và tiếp tục của lịch
    sử, nên tác giả mới có hai phần khác nhau là biểu và bản kỷ, lại có phần thế gia nói
    những điểm chủ yếu trong lịch sử từng công quốc. Không những thế, ông cũng là
    người đầu tiên nói về những dân tộc mà người ta gọi là “mọi rợ” và ở đây tuyệt nhiên

    không có thái độ khinh miệt.
    Ông cũng là người đầu tiên viết một quyển thông sử bao gồm mọi mặt của xã hội.
    Ông chú ý đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời đại. Những thiên Hà Cừ
    Thư, Bình Chuẩn Thư, viết với nhãn lực của một nhà kinh tế học. Ông tìm thấy sự liên
    quan giữa kinh tế với luật pháp và chính trị. Ông đặc biệt chú trọng đến những thiết
    chế về văn hoá như lễ, nhạc, văn học. Ông đã làm cái công việc phi thường là xét tất
    cả các học thuyết của bách gia, trình bày và phê phán, làm công việc của một nhà tư
    tưởng sử. Ông là người đầu tiên cho ta biết về Khuất Nguyên và sự đánh giá của ông
    về Khuất Nguyên là quyết định. Quả thật ông đã làm được cái hoài bão to lớn nhất của
    một con người. Ông đã tổng kết văn hoá Trung quốc lần thứ hai sau Khổng Tử và
    xứng đáng với lời khen của Quách Mạt Nhược “công lao của Tư Mã Thiên so với
    Khổng Tử không hơn không kém”.
    Phương pháp viết sử của ông cũng rất đáng chú ý. Tư Mã Thiên nói, “tôi chỉ thuật lại
    chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có phải sáng tác đâu.”. Câu nói này
    thể hiện đúng cái quan điểm của tác giả và sử. Ngày nay chúng ta không nắm được tất
    cả những tài liệu ông đã dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không bao giờ
    thay đổi tài liệu. Những nhân vật thời Ân, Chu, chính là những nhân vật của Thượng
    Thư, những nhân vật thời Xuân Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của Xuân Thu,
    Quốc Ngữ, Tả Truyện, Chiến quốc sách. Lời nói của họ là lời họ nói trong thực tế,
    theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà Tần là do chính tay tác giả
    chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng văn kiện vô giá, nào chế,
    biểu, nào văn bia, thư phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận rất dài, tất cả chiếm
    một phần ba tác phẩm; trong số đó phần lớn còn sống đến ngày nay vì nó gắn liền với
    số phận của Sử Ký. Đành rằng, đây đó, có những chi tiết sai lầm vì tài liệu lúc bấy giờ
    số lớn là tài liệu truyền miệng. Nhưng nói chung ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm
    viết sử này khác xa quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mã. Các nhà viết sử

    cổ đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công trình nghệ thuật. Những nhân vật của
    họ đọc những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy tồn tại
    với tính cách những giả thuyết tiêu biểu cho chính kiến của họ. Chính vì vậy sử học
    hiện đại không xem đó là những công trình khoa học, không ai lấy đó làm cơ sở chính
    cho sự nghiên cứu La Mã, Hy Lạp cổ. Trái lại, Sử Ký từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn
    nhất của cổ sử Trung hoa. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của
    Trung quốc cổ cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiểu nói, “một trăm đời sau, các
    sử quan không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ quyển sách
    của ông”, chính là vì vậy.
    Tư Mã Thiên là người cha của sử học Trung hoa, nhưng là một người cha khó bắt
    chước nhất. Đối với sử học Trung quốc, ông là người duy nhất nói về đương thời. Các
    sử gia về sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy đã chấm dứt. Họ sợ hiện tại và
    lẩn tránh nó. Trái lại Tư Mã Thiên đã dành một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng
    Vũ đến Vũ Đế, và việc càng gần, ông chép càng rõ. Ông để lại những trang vô cùng
    sinh động về Cấp Ám, con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể gì Vũ Đế.
    Ông kết tội Lữ Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau
    thương về xã hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín (Phong thiện
    thư), phung phí tài sản nhân dân (Bình Chuẩn Thư), ngoại thích lộng hành (Nguỵ Kỳ
    Vũ An Hầu liệt truyện), quan lại tàn ác (Khốc lại liệt truyện), nhà nho cầu an, giả dối
    (Công Tôn Hoằng truyện, Thích Tôn Thông truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và
    chính ở đây, người ta mới hiểu hết cái tâm sự của ông, lòng yêu nước, yêu nhân dân
    cũng như sự trung thực của một nhà khoa học.
    Nhưng quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai. Ông nói quyển
    Sử Ký viết cho “những người của nó”. Người của nó đây không phải là một vị ân chủ,
    một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử. Ông có ý thức rõ về việc đó, cho nên
    hai ngàn năm sau đọc Sử Ký, ta thấy nó sinh động, mãnh liệt vô cùng, đồng thời tràn

    ngập cái hào khí của chính nghĩa. Nhìn vào quyển sách của ông, ta thấy hiện lên rõ rệt
    sự bất bình đẳng trong xã hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai,
    sự giàu có phè phỡn cua bọn phong kiến, con buôn lớn. Ta thấy bức tranh hiện thực
    về xã hội mà bọn bồi bút phong kiến cố hết sức che đậy bằng những danh từ trống
    rỗng. Cố Viêm Võ nói rất đúng, “Người xưa làm sử không cần bàn luận, nhận xét , mà
    cái ý của tác giả thấy ngay trong việc trình bày thì chỉ có một mình Thái sử công làm
    được mà thôi”. Cái khó ở đây không ở phương pháp mà ở con tim. Cũng vì Tư Mã
    Thiên không viết tác phẩm theo những khuôn khổ có sẵn về đạo đức phong kiến, nên
    những nhận xét của ông về lịch sử rất là trác việt.
    Ông luôn luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá nhân vật
    lịch sử. Đặc biệt khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu rõ sự gắn bó của nhân vật
    với số phận của dân chúng. Ông thấy rõ Trần Thiệp “tài năng ở dưới mức trung bình”,
    nhưng đã làm được một việc oanh liệt, chỉ vì được dân chúng ủng hộ. Sự phân tích
    của ông về sự thành công của Lưu Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có một ý nghĩa to
    lớn. Dưới con mắt của ông, Hạng Vũ là một con người phi thường “tài năng và chí khí
    hơn người”, “từ cận cổ đến nay chưa ai có được như thế”. Về tư cách cá nhân mà nói,
    thì Lưu Bang kém Hạng Vũ về tất cả mọi mặt. Hạng Vũ là viên tướng bách chiến bách
    thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi “đi bằng đầu gối, không ai dám ngẩng lên
    nhìn”. Hạng Vũ thương người và trọng nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người “không
    lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái”, ngạo mạn, vô lễ, “thấy khách đội mũ nhà nho, Bái
    Công liền giật lấy mũ đái vào trong”. Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được
    thiên hạ. Đó là vì Lưu Bang biết tự kiềm chế mình, lắng nghe theo lòng dân, luôn luôn
    chú ý đến dân chúng cho nên dân chúng tin. Đúng như Hàn Tín nói, Hạng Vũ chỉ có
    cái nhân của người đàn bà, cái dũng của một kẻ thất phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào
    tài năng của cá nhân mình, nghi ngờ tất cả; đã thế lại hiếu sát làm cho nhân dân thất
    vọng. Lưu Bang đã thắng vì biết dựa vào dân, tận dụng tài năng các tướng. Cách nhìn

    nhận như vậy rất đúng và khoa học. Nó làm người ta nhớ đến những tác phẩm của
    Makiaven, ở đây, Tư Mã Thiên có thể sánh với những sử gia lớn nhất của thời cổ đại.
    IV. NGHỆ THUẬT
    Tư Mã Thiên đã để lại hàng ngàn nhân vật điển hình, sống mãi trong văn học. Riêng
    về mặt này, ông có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân loại. Cả một nhân
    loại mênh mông hiện ra trước mắt chúng ta, đủ các thành phần, đủ các nghề nghiệp,
    đủ các tầng lớp. Hình ảnh những chàng nông dân như Trần Thiệp, Ngô Quảng, những
    người du thuyết như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Thư, những hiệp khách như Kinh
    Kha, Nhiếp Chính, những anh hàng thịt như Chu Hợi, Cao Tiệm Ly, những triết gia
    như Khổng Khâu, Trang Chu, nhưn...
     
    Gửi ý kiến