Học Bác mỗi ngày. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo
Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
SỬ KÝ TƯ MÃ THIÊN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Hoàng Giang
Ngày gửi: 09h:38' 28-12-2023
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Hoàng Giang
Ngày gửi: 09h:38' 28-12-2023
Dung lượng: 2.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
SỬ KÝ TƯ MÃ THIÊN
Tác giả: Tư Mã Thiên
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Sử Ký Tư Mã Thiên, Lời giới thiệu
Đối với văn hoá thế giới, quyển sử ký của Tư Mã Thiên chiếm một địa vị đặc biệt. Nó
là công trình sử học lớn nhất của Trung quốc và là một trong những quyển sử có
tiếng nhất của thế giới. Nhưng còn một điều làm chúng ta ngạc nhiên hơn là công
trình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là một trong những tác phẩm văn học ưu tú
của nhân loại. Người Trung hoa xem nó là tác phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền
văn học cổ Trung quốc, và xem nó là tác phẩm cổ điển ngang hàng với thơ của Đỗ
Phủ.
Sử ký là cả một thế giới. Nó làm thoả mãn tất cả mọi người. Người nghiên cứu sử tìm
thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với giá trị tổng hợp rất cao. Nhà nghiên
cứu tư tưởng tìm thấy qua Sử ký “một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời
cổ đại” (1). Người bình thường tìm thấy vô số những hình tượng điển hình, những câu
chuyện hấp dẫn, những con người đầy sức sống mãnh liệt. Họ thấy quá khứ sống lại
và không phải chỉ có thế. Người nghiên cứu văn học còn tìm thấy ở đấy một tác phẩm
văn học, mãi mãi tươi trẻ như sự sống, họ thấy ở đấy một tâm hồn, một tâm sự đau xót
đầy sức mạnh của thơ trữ tình, “một tập Ly tao không vần” như lời đánh giá của Lỗ
Tấn.
-----------------------1. Bách khoa toàn thư xô-viết mục : Sử ký.
I. CON NGƯỜI
Tư Mã Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 trước Công nguyên, ở Long Môn hay
là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời Chu đã làm Thái sử. Đến
đời cha của ông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán. Đàm là một người học
rất rộng, rất thích học thuyết Lão Trang. Chức sử quan ngoài việc chép sử còn coi
thiên văn, làm lịch, bói toán. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần
với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế
tục vẫn coi thường”. Tuy vậy, Tư Mã Đàm vẫn thấy cái nghề của mình cao quý, vì ông
biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một nước. Trong các sử
quan đời trước, cũng có những người dám hy sinh đời mình để viết sự thật, dù sự thật
ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi Thôi Trữ giết vua Tề, thì quan thái sử nước
Tề viết : “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công”. Quan thái sử bị giết, người em
lên thay vẫn viết như vậy, nên bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên thay
không thêm bớt một chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết. Khổng Tử làm kinh Xuân Thu
cũng là chép lại những sự thực lịch sử cốt để “chế thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội
các đại phu, nêu rõ vương đạo.”
Tư Mã Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn cừu, làm bạn với những
người nông dân bình thường, và học các sách sử cổ. Lên mười tuổi, ông đã học Tả
Truyện, Quốc Ngữ, Thế bản và thuộc lòng hầu hết những bài văn nổi tiếng của thời
trước.
Tư Mã Đàm hết sức chú ý đến việc giáo dục con. Năm Tư Mã Thiên hai mươi tuổi,
ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau này Tư Mã Thiên sẽ
phải viết sử. Tư Mã Thiên trước tiên đi về nam đến Trường Giang, vượt sông Hoài,
sông Tứ, thăm một mẹ Hàn Tín, đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư
hầu, vào hang Vũ Động tìm di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những chuyện kể
về vua Việt, Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ
sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa, đến
bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nhìn dấu vết
mộ vua Thuấn, và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông lên miền Bắc vượt
sông Vấn, sông Tử đến nước Tề, nước Lỗ, bồi hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say
sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh
Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu Bang, để tìm hiểu rõ thời niên thiếu
của những con người đã dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của
Xuân Thân Quân, đến nước Nguỵ hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Tràng An.
Sau chuyến đi ấy kéo dài ba năm, ông còn đi những chuyến khác cũng để tìm tài liệu.
Trong thời xưa, việc đi lại rất khó khăn, trên đường giặc cướp rất nhiều, những nhà du
thuyết có bôn ba từ nước này sang nước khác thì cũng chỉ ở trong một địa bàn rất hẹp,
chứ chưa có ai vì mục đích khoa học mà lại đi xa như vậy. Có thể nói trừ miền Quảng
Đông, Quảng Tây, còn từ Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn Lý Trường Thành, ở đâu
cũng có vết chân của ông. Ông là một trong những nhà du lịch lớn nhất của Trung Cổ.
Những cuộc du lịch đã cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết, giúp ông thấy
được thái độ của nhân dân đối với những nhân vật, những biến cố lịch sử và cho ông
rất nhiều chi tiết điển hình về đời sống từng người trong lúc còn hàn vi.
Chính những cuộc “đi chơi” như vậy đã làm cho Tư Mã Thiên thấy cái bao la hùng vĩ
của đất nước, có được một ý thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ quốc , về tất cả mọi mặt
để thành nhà sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mã Tồn một văn sĩ đời sau nói, “Muốn
học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường.”
Câu nói đó không phải là quá đáng.
Sau lúc đi du lịch về, ông làm lang trung. Lang trung là chức quan nhỏ có trách nhiệm
bảo vệ nhà vua khi đi ra ngoài. Trong thời gian ấy, ông biết Lý Lăng cùng làm lang
trung như ông, và thường gặp Lý Quảng.
Năm 110 trước Công Nguyên, Vũ Đế chuẩn bị làm lễ phong thiên ở Thái Sơn, Tư Mã
Đàm trên đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay con khóc mà dặn rằng :
- Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào con cũng nối nghiệp ta làm
thái sử. Khi làm thái sử chớ quên những điều ta muốn bàn, muốn viết… Hiện nay bốn
biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu
hổ. Con hãy nhớ lấy !
Ông khóc mà vâng lời.
Ba năm mãn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (-108) chuẩn bị viết bộ Sử ký, thực
hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha, đồng thời là điều mong ước duy nhất của
mình. Từ - 106, ông không giao tiếp với khách khứa, bỏ cả việc nhà, ngày đêm miệt
mài biên chép. Như thế được bảy năm thì xảy ra cái vạ Lý Lăng.
Năm 99 trước Công Nguyên, Vũ Đế sai Lý Quảng Lợi cầm ba vạn quân đánh Hung
Nô. Bấy giờ Lý Lăng, cháu của danh tướng Lý Quảng, cầm năm ngàn quân vào biên
giới Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây. Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu suốt
mười ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng cuối cùng vì cách xa biên giới, bị chặn
mất đường về, quân sĩ chết hầu hết, mệt mỏi không còn sức chiến đấu, Lăng phải đầu
hàng. Vũ Đế nổi giận muốn giết cả nhà Lăng, quần thần đều hùa theo ý nhà vua.
Thiên biết Lăng từ hồi hai người còn làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng
mến phục Lăng là người can đảm có phong thái của người quốc sĩ, nên tâu :
- Lý Lăng mang năm nghìn quân thâm nhập vào nước địch, đánh nhau với quân địch
mạnh, luôn mười ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi Thuyền Vu sợ hãi,
đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây. Lăng một mình hăng hái chiến đấu ở ngoài
ngàn dặm, tên hết, đường về bị cắt, cứu binh không đến, người chết và bị thương
chồng như núi, nhưng nghe Lý Lăng hô hào, binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy
nước mắt giơ nắm tay không, xông vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần
cho rằng Lý Lăng có thể sánh với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại,
nhưng xem ông ta còn muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
Ông hy vọng lời nói của mình có thể giảm nhẹ tội Lý Lăng, không ngờ Vũ Đế càng
giận, cho ông cố ý đề cao Lăng để chê Lý Quảng Lợi nhút nhát không lập nên công
lao gì, mà Quảng Lợi lại là anh của Lý phu nhân rất được nhà vua yêu quý. Vũ Đế
bèn sai bắt giam Tư Mã Thiên giao cho Đỗ Chu xét xử.
Nhân vật Đỗ Chu đã được Thiên nói đến trong Khốc lại truyện. Có người trách y,
“Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào pháp luật mà xét, trái lại
chỉ lo chìu theo ý nhà vua?” Đỗ Chu đáp, “Luật lệnh ở đâu mà ra ? Chẳng phải do
nhà vua mà ra đó sao?” Gặp phải bọn quan lại như vậy, cố nhiên ông không có cách
nào khỏi tội.
Bấy giờ có phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội
chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một người bạn cũ sắp bị chém,
một người cùng chung cảnh ngộ (Xem thư trả lời Nhâm An). Ông đã kể lại nỗi cay
đắng của mình. Nhà ông nghèo, ông mải mê theo đuổi sự nghiệp của mình quên cả
gia sản, nên không sao chuộc được tội. Bạn bè, thân thích, không ai nói hộ một lời,
không ai giúp cho một đồng . Kết quả, con người ngang tàng, hai mươi ba tuổi đầu đi
khắp Trung quốc, nhà học giả lớn nhất của thời đại, con người ôm cái hoài bão làm
Chu Công, Khổng Tử, cuối cùng bị khép vào tội “coi thường nhà vua”, và bị thiến !
Đã mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Những ông thấy rằng nếu chết đi thì
chẳng ai khen mình là tử tiết, mà thế tục sẽ bảo đó là vì xấu hổ mà tự sát. Vả chăng, sự
nghiệp chưa tròn, Sử ký còn dở dang, lời dặn của cha còn đó. Ông gạt nước mắt, nói ,
“Người ta ai cũng có một lần chết, có cái chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ như
lông hồng”, và cố gắng gượng sống.
Cái ấn tượng nhục nhã, cô độc theo dõi ông cho đến khi chết. Mỗi khi nghĩ đến cái
nhục bị hình phạt, mồ hôi vẫn cứ đầm lưng ướt áo! Nhưng ông không vì thế mà chán
nản. Trái lại, ông càng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Ông thấy rõ hình phạt đó là
một thử thách đối với những “người trác việc phi thường”. Ông càng thấy cần phải
viết “cho hả điều căm giận”. Và chính cái hình phạt nhục nhã ấy đã làm cho ông hiểu
rõ cái mặt trái của xã hội phong kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông trở
thành nhà sử gia vĩ đại của một nhân dân vĩ đại.
Quyển Sử ký trước kia là ý nghĩa của đời ông, bây giờ còn là nơi ông giải bày nổi lòng
uất ức. Càng cảm thấy nhục nhã, ông càng thấy thiết tha với công việc, đem cả tâm
huyết gửi vào cái tác phẩm vĩ đại, hy vọng rằng dù mình tàn phế, bị ô nhục, nhưng
quyển sách kia sẽ thay mình nói với cuộc đời.
Ở ngục ra, ông được làm trung thư lệnh. Đó là một chức quan to, ở gần vua, được ra
vào cung cấm, xem tất cả các tài liệu mật. Tuy ở chức quan cao như vậy, nhưng ông
chỉ cảm thấy xấu hổ vì đó là chức quan chỉ dành cho những hoạn quan.
Hiện nay người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết ông viết bức
thư trả lời cho Nhâm An năm ông 53 tuổi (-93), và sau đó không có những tài liệu gì
về ông. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử công hành niên khảo có lẽ ông mất năm
60 tuổi (-86) cùng một năm với Vũ Đế.
Quyển Sử ký như tác giả nó nói, không phải viết ra để mưu danh tiếng trước mắt. Sau
khi ông chết, cũng không mấy ai biết đến nó. Quyển này được cất kỹ mãi đến thời
cháu ngoại của ông là Dương Vận, thời Tuyên Đế mới được công bố.
Ngoài Sử ký, ông còn làm một công việc khác cũng rất quan trọng. Năm –104, ông
cùng Công Tôn Khanh Hồ Toại sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch. Âm lịch còn dùng
đến ngày nay là công trình của nhóm này, trong đó ông đóng vai trò chủ chốt.
II. TÁC PHẨM
Sử ký là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm năm phần : Bản kỷ,
biểu, thư, thế gia, liệt truyện .
1. Bản kỷ – chép sự tích của các đế vương, gồm có : Ngũ đế (Hoàng đế, Chuyên Húc,
Cốc, Nghiêu, Thuấn)
2. Hạ, Thương, Chu - mỗi thời đại một bản kỷ
3. Tần hai bản kỷ - một bản kỷ từ khi có nước Tần đến Tần Thuỷ Hoàng; một bản kỷ
về Tần Thuỷ Hoàng.
4. Hạng Vũ
5. Các bản kỷ về nhà Hán : Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ.
Tất cả có 12 bản kỷ, nhưng hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ. Vương
Túc đời Nguỵ nói, “Vũ Đế nghe nói ông ta viết Sử ký bèn lấy bản kỷ của Hiếu Cảnh
và của mình xem, giận lắm vứt đi, cho nên phần này chỉ có mục đề thôi, không viết
gì”. Về sau Chử Toại Lương lấy những phần này ở quyển Hán Thư của Ban Cố để điền
vào cho đủ. Điều đó không phải không có lý vì Tư Mã Thiên có thái độ rất nghiêm
khắc đối với các vua chúa, cũng không kiêng nể gì ông vua đang sống mà ông đã
công kích mãnh liệt trong phần Phong thiện thư. Chính vì thế, Vương Doãn đời Hậu
Hán gọi Sử ký là một quyển “báng thư” (một quyển sách phỉ báng). Mục đích của bản
kỷ là chép lại sự việc của những người, những nước có tác dụng chi phối cả thiên hạ.
Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông cũng có những điều đời sau không dám nghĩ
đến. Ông chép riêng lịch sử nước Tần, trước Tần Thuỷ Hoàng thành một bản kỷ, vì
trong thời Chiến quốc, nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước . Ông
làm bản kỷ Lữ Hậu, mặc dầu Lữ Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị vì trên danh nghĩa.
Trái lại, ông không làm bản kỷ của Huệ Đế, mặc dù trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn là
vua. Đó là vì, tuy Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay Lữ
Hậu. Đặt một người đàn bà lên địa vị “kỷ cương” một nước, là điều không một sử gia
nào đời sau dám làm. Táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ những trang đẹp nhất,mặc
dù Hạng Vũ chưa làm đế, là kẻ thù của nhà Hán. Đó cũng là vì ông tôn trọng sự khách
quan. Hạng Vũ tuy về danh nghĩa không phải là người làm chủ các chư hầu đánh lại
nhà Tần (đó là địa vị của Nghĩa đế), nhưng trong thực tế, người có công lớn nhất
trong việc tiêu diệt nhà Tần, người phong đất cho chư hầu cai trị thiên hạ trong năm
năm, chính là Hạng Vũ. Các bản kỷ cung cấp cho người đọc, cái nhìn khái quát về
từng thời đại để sau đó đi sâu vào từng sự kiện và từng nhân vật.
2. Biểu : Để có cái nhìn đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ
vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mã Thiên lập ra mười biểu gồm có :
1. Thế biểu thời tam đại
2. Niên biểu mười hai nước chư hầu.
3. Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc
4. Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở.
5. Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán.
6. Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ
7. Niên biểu các nước chư hầu thời Huệ Đế và Cảnh Đế.
8. Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên.
9. Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế.
10. Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên.
Những bản biểu là những công trình khoa học rất quý, ghi chép, năm, tháng, biến cố,
giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và sự tương quan của nó về
thời gian cũng như về không gian với các sự kiện khác, đặc biệt ở trong một nước
mênh mông lại chia cắt phân tán như Trung quốc cổ.
3. Thư : Lịch sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mã Thiên
nhận thấy điều đó nên viết tám “thư” dành cho tám mặt. Điều này cũng biểu hiện rằng
ông có một kiến thức bách khoa. Tám thư ấy là :
1. Lễ thư
2. Nhạc thư
3. Luật thư
4. Lịch thư
5. Thiên quan thư
6. Phong thiện thư
7. Hà cừ thư
8. Bình chuẩn thư
Phần này rất quý về mặt nghiên cứu. Tác giả nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về
lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn, v…v… qua các thời đại. Điều làm chúng ta
hết sức ngạc nhiên là ông có những hiểu biết chính xác về mọi mặt và ở đâu ông cũng
có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên “Phong thiện thư”, nói về những mê
tín, cúng tế, của vua chúa với một giọng châm biếm chua chát. Thiên “Hà cừ thư” nói
về các con sông đào ở Trung quốc. Thiên “Bình chuẩn thư” nói về kinh tế. Những
thiên này viết chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính
những sai sót trong các sách cổ, nói về những thiết chế xã hội. Chúng làm ta thấy tác
giả có một cái nhìn duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện kinh
tế, khoa học, văn hoá đối với lịch sử một nước. Rất tiếc vì phạm vi quyển tuyển tập
hạn chế, chỉ có thể giới thiệu được thiên “Bình chuẩn thư”, và do đó, không thể nào
nêu lên được một cái nhìn toàn diện của một bộ óc vĩ đại.
4. Thế gia : Phần thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu, chẳng
hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở, v…v… Những người có địa vị lớn trong quý tộc như
các thái hậu, những người được phong một nước như Chu Công, Thiệu Công, và
những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình, v…v… Đáng chú ý nhất là
tác giả xếp vào thế gia hai người thường dân không hề có một tấc đất phong. Đó là
Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch sử tư tưởng của Trung quốc, và
Trần Thiệp, anh chàng cố nông đã cầm đầu cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của
lịch sử dân tộc Hán. Cách nhìn như vậy chứng tỏ một tầm con mắt khác thường.
5. Liệt truyện : Danh từ này do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên bao gồm
những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. Đáng để ý trước hết là
phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung quốc mà ông là người
đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản khái quát đứng đắn và khoa học
(Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Đại Uyển, Hung Nô). Cố nhiên, một phần
liệt truyện sẽ dành cho những người tai mắt trong xã hội cũ như những danh tướng
(Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh), những người làm quan to (Trương Thích Chi,
Công Tôn Hoằng, v…v..) Điều đáng chú ý nhất ở đây là ông đã nhìn thấy vai trò to
lớn của những con người bình thường, thường không có chức tước gì nhưng có ảnh
hưởng vô cùng sâu rộng đối với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích khách,
trọng nghĩa, khinh tài mà ông đã ghi lại trong những trang sôi nổi (Thích khách Liệt
truyện, Du hiệp Liệt truyện). Đó là những nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông đã ghi
lại cuộc đời, hành trang và đánh giá học thuyết (Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh,
v..v..) Đó là những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Nhu mà ông nêu lên
giá trị và nhận xét về nghệ thuật. Đó là những thầy thuốc, thầy bói, thậm chí những
anh hề mà trong con mắt của ông lời nói có thể xếp vào Lục Kinh. Và cố nhiên một
con người yêu nhân dân và sự thật như Tư Mã Thiên không thể nào quên những tên
sâu, mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn “khốc lại” chỉ lo a dua nhà vua, tàn sát
dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện mà ông
mạt sát bằng những lời phẩn nộ. Thế giới của Tư Mã Thiên bao la như vậy! Quy mô
của tác phẩm làm ta ngợp, bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với những người yêu văn
học Trung quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác rất lạ. Ở đây có cái biến ảo của Nam
Hoa Kinh, có cái rạch ròi của Hàn Phí Tử. Nhưng còn một cái nữa mà văn học từ Hán
trở về trước (trừ Kinh Thi) không thấy có, đó là ý thức bám chắc vào sự thực, không
rời cuộc sống dù chỉ nửa bước. Chúng ta cảm thấy mình đứng cả hai chân trần trên
mảnh đất của sự thực.
Ấn tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là vì Sử ký chính là Tư Mã
Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.
III. TƯ TƯỞNG
Tư Mã Thiên tự định nghĩa mình là một con người “bất cơ”. “Bất cơ” tức là không
chịu trói buộc mình theo tập tục, vượt ra ngoài lề thói. Chẳng hạn hai mươi tuổi, cha
còn sống, vẫn cứ “viễn du” đi khắp địa bàn Trung quốc, đó là một hành động bất cơ.
Nhà vua đặt chức sử quan chẳng qua chỉ để ghi chép việc làm của vua, ăn ở đâu, ngồi
ở đâu, ngủ ở đâu, nói câu gì, v..v…từng một ngày. Và thế là tròn trách nhiệm. Nhung
ông lại muốn “nối nghiệp Khổng Tử, soi sáng cho đời, chỉnh lý được Dịch Truyện,
tiếp tục được Kinh xuân Thu nắm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ,
Kinh Nhạc, tóm lại ông muốn làm một Khổng Tử thứ hai ngay trong thời đại chuyên
chế cực độ. Đó cũng là một ý nghĩ “bất cơ”.
Tư Mã Thiên là con người của một giai đoạn lịch sử rất cụ thể. Lúc ông lên sáu thì
Hán Vũ Đế lên ngôi, và ông chết cùng một năm với Vũ Đế. Thời Vũ Đế chính là lúc
uy tín nhà Hán đạt đến cực điểm, biểu lộ tất cả cái vĩ đại, huy hoàng làm người ta
ngợp mắt. Trong Bình Chuẩn Thư, tác giả đã nói đến cái cảnh tượng phồn thịnh ban
đầu, kho đạn đầy rẫy, tiền tiêu không thể hết, dân ăn gà, thịt, có ngựa hàng đàn. Uy tín
nhà Hán đã đạt đến trình độ xưa nay chưa hề có. Biên giới phía Nam đến Nam Việt,
phía Bắc đến Triều Tiên, buôn bán giao thông với Trung Á, Ấn độ, La Mã. Thành phố
tấp nập, cung điện nguy nga. Năm – 138 trước Công Nguyên, Trương Khiên đi sứ về
phía Tây, qua Hung Nô đến tận miền Trung Á thuộc Liên Xô ngày nay (gọi gộp là Tây
Vực). Nước nhà thống nhất, chế độ tập quyền cực thịnh, tất nhiên đưa đến những sự
thay đổi về văn hoá. Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư bãi truất bách gia, độc tôn nho
học. Thời đại “trăm nhà đua tiếng” đến đây chấm dứt. Văn học chuyển thẳng sang
việc ca ngợi lâu đài, ngựa xe, vườn tược nhà vua, mà tiêu biểu nhất là những bài phú
của Tư Mã Tương Như. Bấy giờ trước mắt những con người học rộng tài cao có hai
con đường. Con đường thứ nhất là vứt bỏ cái mộng làm một sự nghiệp to lớn, thừa
nhận trong hoàn cảnh này chỉ còn một cách là làm một anh hề, sống qua ngày đoạn
tháng ở trước cửa Kim mã. Đó là con đường của Đông Phương Sóc, của hầu hết tất cả
các học giả đương thời. Lại có một con đường khác “xét trong khoảng trời đất, thấu
suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà.” Đó là con đường làm
một Khổng Tử thứ hai, không phải ở trong hoàn cảnh Xuân Thu, Chiến quốc mà ở
trong hoàn cảnh chuyên chế cực thịnh. Tư Mã Thiên đã chọn con đường ấy, và điều
đó cắt nghĩa tại sao con người này sống bơ vơ, lạc lõng, tội nghiệp như vậy.
Cái gì đã khiến ông làm một việc bất cơ như vậy ? Đó là vì ông thấy mình gắn liền với
số phận của dân chúng. Ông thấy cái vẻ thái bình, phồn thịnh trước mắt chỉ là tạm
thời. Bọn vua chúa lợi dụng hoàn cảnh yên ổn càng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân,
gây chiến tranh để mở rộng đất đai, xây cung thất, dựng lâu đài, tế phong thiên… Cái
cảnh phồn vinh tan đi như một giấc mơ. Nhân dân nhao nhác cùng cực, bọn khốc lại
xuất hiện ra sức chém giết, hàng chục vạn người bị tù đày, trong ngoài điêu đứng tan
hoang, làm cho nhà Hán tưởng chừng sẽ lao theo bánh xe nhà Tần đã mất. Ông không
thể làm một anh hề như Đông Phương Sóc tìm cách sống an thân hay một thứ nhà văn
như Tư Mã Tương Như lúc chết còn khuyên nhà vua làm lễ phong thiện. Chính cái
thời Vũ Đế đã làm cho ông thấy tất cả cái vinh dự được làm con người Trung quốc.
Nó đưa đến cho ông cái ý thức về sự vĩ đại, bao la và thống nhất của tổ quốc mà ông
yêu quý. Nhưng càng yêu quý tổ quốc, ông càng gắn bó với nhân dân. Và do đó, bức
tranh ông vẽ đương thời không phải là một bức tranh khoa trương tráng lệ như một
bài phú của Trương Như, mà nó đầy vẻ bi hùng. Cái mâu thuẫn đau đớn này trong tư
tưởng đã đẻ ra cách quan niệm về sử hết sức độc đáo, xứng đáng gọi là một cống hiến
về tư tưởng. Có thể nói, Tư Mã Thiên là sử gia đầu tiên trên thế giới viết về lịch sử của
một nước. Trước đấy, ở Trung quốc chỉ có những người viết lịch sử một công quốc
hay kể lại một vài biến cố quan trọng như Xuân Thu Thượng Thư. Những bộ sử như
Lịch Sử của Hêrôđôt (481-425). Lịch sử chiến tranh ở Pelpôônne của Thuxiđit (460396) trong văn học Hy Lạp hay Chiến Tranh ở Gôlơ của Xêđa trong văn học La Mã,
chẳng qua chỉ kể lại một trận đánh hay một chiến dịch.
Quyển Lịch sử La Mã của Titut Livut (69- 17) sau Sử ký viết toàn bộ lịch sử một đô
thị, nhưng đó chỉ là lịch sử một đô thị. Sử ký thì khác, nó là lịch sử của toàn bộ dân
tộc Trung hoa kéo dài trên ba ngàn năm từ Hoàng Đế đến Vũ Đế và bao gồm một địa
bàn mênh mông. Chính vì có ý thức rất rõ về tính chất thống nhất và tiếp tục của lịch
sử, nên tác giả mới có hai phần khác nhau là biểu và bản kỷ, lại có phần thế gia nói
những điểm chủ yếu trong lịch sử từng công quốc. Không những thế, ông cũng là
người đầu tiên nói về những dân tộc mà người ta gọi là “mọi rợ” và ở đây tuyệt nhiên
không có thái độ khinh miệt.
Ông cũng là người đầu tiên viết một quyển thông sử bao gồm mọi mặt của xã hội.
Ông chú ý đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời đại. Những thiên Hà Cừ
Thư, Bình Chuẩn Thư, viết với nhãn lực của một nhà kinh tế học. Ông tìm thấy sự liên
quan giữa kinh tế với luật pháp và chính trị. Ông đặc biệt chú trọng đến những thiết
chế về văn hoá như lễ, nhạc, văn học. Ông đã làm cái công việc phi thường là xét tất
cả các học thuyết của bách gia, trình bày và phê phán, làm công việc của một nhà tư
tưởng sử. Ông là người đầu tiên cho ta biết về Khuất Nguyên và sự đánh giá của ông
về Khuất Nguyên là quyết định. Quả thật ông đã làm được cái hoài bão to lớn nhất của
một con người. Ông đã tổng kết văn hoá Trung quốc lần thứ hai sau Khổng Tử và
xứng đáng với lời khen của Quách Mạt Nhược “công lao của Tư Mã Thiên so với
Khổng Tử không hơn không kém”.
Phương pháp viết sử của ông cũng rất đáng chú ý. Tư Mã Thiên nói, “tôi chỉ thuật lại
chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có phải sáng tác đâu.”. Câu nói này
thể hiện đúng cái quan điểm của tác giả và sử. Ngày nay chúng ta không nắm được tất
cả những tài liệu ông đã dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không bao giờ
thay đổi tài liệu. Những nhân vật thời Ân, Chu, chính là những nhân vật của Thượng
Thư, những nhân vật thời Xuân Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của Xuân Thu,
Quốc Ngữ, Tả Truyện, Chiến quốc sách. Lời nói của họ là lời họ nói trong thực tế,
theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà Tần là do chính tay tác giả
chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng văn kiện vô giá, nào chế,
biểu, nào văn bia, thư phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận rất dài, tất cả chiếm
một phần ba tác phẩm; trong số đó phần lớn còn sống đến ngày nay vì nó gắn liền với
số phận của Sử Ký. Đành rằng, đây đó, có những chi tiết sai lầm vì tài liệu lúc bấy giờ
số lớn là tài liệu truyền miệng. Nhưng nói chung ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm
viết sử này khác xa quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mã. Các nhà viết sử
cổ đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công trình nghệ thuật. Những nhân vật của
họ đọc những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy tồn tại
với tính cách những giả thuyết tiêu biểu cho chính kiến của họ. Chính vì vậy sử học
hiện đại không xem đó là những công trình khoa học, không ai lấy đó làm cơ sở chính
cho sự nghiên cứu La Mã, Hy Lạp cổ. Trái lại, Sử Ký từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn
nhất của cổ sử Trung hoa. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của
Trung quốc cổ cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiểu nói, “một trăm đời sau, các
sử quan không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ quyển sách
của ông”, chính là vì vậy.
Tư Mã Thiên là người cha của sử học Trung hoa, nhưng là một người cha khó bắt
chước nhất. Đối với sử học Trung quốc, ông là người duy nhất nói về đương thời. Các
sử gia về sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy đã chấm dứt. Họ sợ hiện tại và
lẩn tránh nó. Trái lại Tư Mã Thiên đã dành một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng
Vũ đến Vũ Đế, và việc càng gần, ông chép càng rõ. Ông để lại những trang vô cùng
sinh động về Cấp Ám, con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể gì Vũ Đế.
Ông kết tội Lữ Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau
thương về xã hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín (Phong thiện
thư), phung phí tài sản nhân dân (Bình Chuẩn Thư), ngoại thích lộng hành (Nguỵ Kỳ
Vũ An Hầu liệt truyện), quan lại tàn ác (Khốc lại liệt truyện), nhà nho cầu an, giả dối
(Công Tôn Hoằng truyện, Thích Tôn Thông truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và
chính ở đây, người ta mới hiểu hết cái tâm sự của ông, lòng yêu nước, yêu nhân dân
cũng như sự trung thực của một nhà khoa học.
Nhưng quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai. Ông nói quyển
Sử Ký viết cho “những người của nó”. Người của nó đây không phải là một vị ân chủ,
một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử. Ông có ý thức rõ về việc đó, cho nên
hai ngàn năm sau đọc Sử Ký, ta thấy nó sinh động, mãnh liệt vô cùng, đồng thời tràn
ngập cái hào khí của chính nghĩa. Nhìn vào quyển sách của ông, ta thấy hiện lên rõ rệt
sự bất bình đẳng trong xã hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai,
sự giàu có phè phỡn cua bọn phong kiến, con buôn lớn. Ta thấy bức tranh hiện thực
về xã hội mà bọn bồi bút phong kiến cố hết sức che đậy bằng những danh từ trống
rỗng. Cố Viêm Võ nói rất đúng, “Người xưa làm sử không cần bàn luận, nhận xét , mà
cái ý của tác giả thấy ngay trong việc trình bày thì chỉ có một mình Thái sử công làm
được mà thôi”. Cái khó ở đây không ở phương pháp mà ở con tim. Cũng vì Tư Mã
Thiên không viết tác phẩm theo những khuôn khổ có sẵn về đạo đức phong kiến, nên
những nhận xét của ông về lịch sử rất là trác việt.
Ông luôn luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá nhân vật
lịch sử. Đặc biệt khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu rõ sự gắn bó của nhân vật
với số phận của dân chúng. Ông thấy rõ Trần Thiệp “tài năng ở dưới mức trung bình”,
nhưng đã làm được một việc oanh liệt, chỉ vì được dân chúng ủng hộ. Sự phân tích
của ông về sự thành công của Lưu Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có một ý nghĩa to
lớn. Dưới con mắt của ông, Hạng Vũ là một con người phi thường “tài năng và chí khí
hơn người”, “từ cận cổ đến nay chưa ai có được như thế”. Về tư cách cá nhân mà nói,
thì Lưu Bang kém Hạng Vũ về tất cả mọi mặt. Hạng Vũ là viên tướng bách chiến bách
thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi “đi bằng đầu gối, không ai dám ngẩng lên
nhìn”. Hạng Vũ thương người và trọng nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người “không
lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái”, ngạo mạn, vô lễ, “thấy khách đội mũ nhà nho, Bái
Công liền giật lấy mũ đái vào trong”. Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được
thiên hạ. Đó là vì Lưu Bang biết tự kiềm chế mình, lắng nghe theo lòng dân, luôn luôn
chú ý đến dân chúng cho nên dân chúng tin. Đúng như Hàn Tín nói, Hạng Vũ chỉ có
cái nhân của người đàn bà, cái dũng của một kẻ thất phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào
tài năng của cá nhân mình, nghi ngờ tất cả; đã thế lại hiếu sát làm cho nhân dân thất
vọng. Lưu Bang đã thắng vì biết dựa vào dân, tận dụng tài năng các tướng. Cách nhìn
nhận như vậy rất đúng và khoa học. Nó làm người ta nhớ đến những tác phẩm của
Makiaven, ở đây, Tư Mã Thiên có thể sánh với những sử gia lớn nhất của thời cổ đại.
IV. NGHỆ THUẬT
Tư Mã Thiên đã để lại hàng ngàn nhân vật điển hình, sống mãi trong văn học. Riêng
về mặt này, ông có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân loại. Cả một nhân
loại mênh mông hiện ra trước mắt chúng ta, đủ các thành phần, đủ các nghề nghiệp,
đủ các tầng lớp. Hình ảnh những chàng nông dân như Trần Thiệp, Ngô Quảng, những
người du thuyết như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Thư, những hiệp khách như Kinh
Kha, Nhiếp Chính, những anh hàng thịt như Chu Hợi, Cao Tiệm Ly, những triết gia
như Khổng Khâu, Trang Chu, nhưn...
Tác giả: Tư Mã Thiên
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Sử Ký Tư Mã Thiên, Lời giới thiệu
Đối với văn hoá thế giới, quyển sử ký của Tư Mã Thiên chiếm một địa vị đặc biệt. Nó
là công trình sử học lớn nhất của Trung quốc và là một trong những quyển sử có
tiếng nhất của thế giới. Nhưng còn một điều làm chúng ta ngạc nhiên hơn là công
trình khoa học lớn lao ấy đồng thời lại là một trong những tác phẩm văn học ưu tú
của nhân loại. Người Trung hoa xem nó là tác phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền
văn học cổ Trung quốc, và xem nó là tác phẩm cổ điển ngang hàng với thơ của Đỗ
Phủ.
Sử ký là cả một thế giới. Nó làm thoả mãn tất cả mọi người. Người nghiên cứu sử tìm
thấy ở đấy một kho tài liệu vô giá, chính xác, với giá trị tổng hợp rất cao. Nhà nghiên
cứu tư tưởng tìm thấy qua Sử ký “một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời
cổ đại” (1). Người bình thường tìm thấy vô số những hình tượng điển hình, những câu
chuyện hấp dẫn, những con người đầy sức sống mãnh liệt. Họ thấy quá khứ sống lại
và không phải chỉ có thế. Người nghiên cứu văn học còn tìm thấy ở đấy một tác phẩm
văn học, mãi mãi tươi trẻ như sự sống, họ thấy ở đấy một tâm hồn, một tâm sự đau xót
đầy sức mạnh của thơ trữ tình, “một tập Ly tao không vần” như lời đánh giá của Lỗ
Tấn.
-----------------------1. Bách khoa toàn thư xô-viết mục : Sử ký.
I. CON NGƯỜI
Tư Mã Thiên, tên tự là Tử Trường, sinh năm 145 trước Công nguyên, ở Long Môn hay
là huyện Hàn Thành, tỉnh Thiểm Tây. Tổ tiên của ông từ đời Chu đã làm Thái sử. Đến
đời cha của ông là Tư Mã Đàm làm thái sử lệnh của nhà Hán. Đàm là một người học
rất rộng, rất thích học thuyết Lão Trang. Chức sử quan ngoài việc chép sử còn coi
thiên văn, làm lịch, bói toán. “Nghề viết văn, viết sử, xem sao, xem lịch thì cũng gần
với bọn thầy bói, thầy cúng. Chúa thượng vẫn đùa bỡn nuôi như bọn con hát, còn thế
tục vẫn coi thường”. Tuy vậy, Tư Mã Đàm vẫn thấy cái nghề của mình cao quý, vì ông
biết nó có tác dụng to lớn đối với sự thịnh suy, hưng vong của một nước. Trong các sử
quan đời trước, cũng có những người dám hy sinh đời mình để viết sự thật, dù sự thật
ấy làm vua chúa tức giận. Chẳng hạn khi Thôi Trữ giết vua Tề, thì quan thái sử nước
Tề viết : “Thôi Trữ giết vua của mình là Trang Công”. Quan thái sử bị giết, người em
lên thay vẫn viết như vậy, nên bị giết luôn. Ngay lúc đó, người em thứ ba xin lên thay
không thêm bớt một chữ. Thôi Trữ sợ không dám giết. Khổng Tử làm kinh Xuân Thu
cũng là chép lại những sự thực lịch sử cốt để “chế thiên tử, ức chế chư hầu, phạt tội
các đại phu, nêu rõ vương đạo.”
Tư Mã Thiên sống thời thơ ấu ở Long Môn, cày ruộng, chăn cừu, làm bạn với những
người nông dân bình thường, và học các sách sử cổ. Lên mười tuổi, ông đã học Tả
Truyện, Quốc Ngữ, Thế bản và thuộc lòng hầu hết những bài văn nổi tiếng của thời
trước.
Tư Mã Đàm hết sức chú ý đến việc giáo dục con. Năm Tư Mã Thiên hai mươi tuổi,
ông bảo con lên đường đi du lịch để xem tận mắt những nơi sau này Tư Mã Thiên sẽ
phải viết sử. Tư Mã Thiên trước tiên đi về nam đến Trường Giang, vượt sông Hoài,
sông Tứ, thăm một mẹ Hàn Tín, đoạn lên núi Cối Kê xem nơi vua Hạ Vũ triệu tập chư
hầu, vào hang Vũ Động tìm di tích vua Vũ. Ở Cối Kê ông đã nghe những chuyện kể
về vua Việt, Câu Tiễn. Ông lên Cô Tô tìm di tích Ngũ Tử Tư, đi thuyền trên Thái Hồ
sưu tầm truyền thuyết về Tây Thi, Phạm Lãi. Sau đó, ông đi ngược lên Trường Sa, đến
bến Mịch La khóc Khuất Nguyên, đến sông Tương trèo lên núi Cửu Nghi nhìn dấu vết
mộ vua Thuấn, và khảo sát những tục cũ từ thời Hoàng Đế. Ông lên miền Bắc vượt
sông Vấn, sông Tử đến nước Tề, nước Lỗ, bồi hồi nhìn lăng miếu của Khổng Tử, say
sưa nghe nhân dân kể chuyện Trần Thiệp, đến đất Tiết thăm hỏi di tích của Mạnh
Thường Quân, lên Bành Thành quê hương Lưu Bang, để tìm hiểu rõ thời niên thiếu
của những con người đã dựng nên nhà Hán. Ông sang nước Sở thăm đất phong của
Xuân Thân Quân, đến nước Nguỵ hỏi chuyện Tín Lăng Quân rồi trở về Tràng An.
Sau chuyến đi ấy kéo dài ba năm, ông còn đi những chuyến khác cũng để tìm tài liệu.
Trong thời xưa, việc đi lại rất khó khăn, trên đường giặc cướp rất nhiều, những nhà du
thuyết có bôn ba từ nước này sang nước khác thì cũng chỉ ở trong một địa bàn rất hẹp,
chứ chưa có ai vì mục đích khoa học mà lại đi xa như vậy. Có thể nói trừ miền Quảng
Đông, Quảng Tây, còn từ Vân Nam, Tứ Xuyên cho đến Vạn Lý Trường Thành, ở đâu
cũng có vết chân của ông. Ông là một trong những nhà du lịch lớn nhất của Trung Cổ.
Những cuộc du lịch đã cung cấp cho ông vô số tài liệu, truyền thuyết, giúp ông thấy
được thái độ của nhân dân đối với những nhân vật, những biến cố lịch sử và cho ông
rất nhiều chi tiết điển hình về đời sống từng người trong lúc còn hàn vi.
Chính những cuộc “đi chơi” như vậy đã làm cho Tư Mã Thiên thấy cái bao la hùng vĩ
của đất nước, có được một ý thức sâu sắc về sự vĩ đại của tổ quốc , về tất cả mọi mặt
để thành nhà sử gia vĩ đại của cả một dân tộc. Mã Tồn một văn sĩ đời sau nói, “Muốn
học cái văn của Tư Mã Tử Trường thì trước tiên phải học cái chơi của Tử Trường.”
Câu nói đó không phải là quá đáng.
Sau lúc đi du lịch về, ông làm lang trung. Lang trung là chức quan nhỏ có trách nhiệm
bảo vệ nhà vua khi đi ra ngoài. Trong thời gian ấy, ông biết Lý Lăng cùng làm lang
trung như ông, và thường gặp Lý Quảng.
Năm 110 trước Công Nguyên, Vũ Đế chuẩn bị làm lễ phong thiên ở Thái Sơn, Tư Mã
Đàm trên đường đi theo nhà vua, mắc bệnh nặng, cầm tay con khóc mà dặn rằng :
- Tổ ta đời đời làm sử quan. Sau khi ta chết đi, thế nào con cũng nối nghiệp ta làm
thái sử. Khi làm thái sử chớ quên những điều ta muốn bàn, muốn viết… Hiện nay bốn
biển một nhà, vua sáng tôi hiền, ta làm thái sử mà không chép được rất lấy làm xấu
hổ. Con hãy nhớ lấy !
Ông khóc mà vâng lời.
Ba năm mãn tang, ông thay cha làm thái sử lệnh (-108) chuẩn bị viết bộ Sử ký, thực
hiện cái hoài bão lớn nhất của người cha, đồng thời là điều mong ước duy nhất của
mình. Từ - 106, ông không giao tiếp với khách khứa, bỏ cả việc nhà, ngày đêm miệt
mài biên chép. Như thế được bảy năm thì xảy ra cái vạ Lý Lăng.
Năm 99 trước Công Nguyên, Vũ Đế sai Lý Quảng Lợi cầm ba vạn quân đánh Hung
Nô. Bấy giờ Lý Lăng, cháu của danh tướng Lý Quảng, cầm năm ngàn quân vào biên
giới Hung Nô. Bị tám vạn quân Hung Nô bao vây. Lăng chỉ huy cuộc chiến đấu suốt
mười ngày liền, giết hơn vạn quân địch. Nhưng cuối cùng vì cách xa biên giới, bị chặn
mất đường về, quân sĩ chết hầu hết, mệt mỏi không còn sức chiến đấu, Lăng phải đầu
hàng. Vũ Đế nổi giận muốn giết cả nhà Lăng, quần thần đều hùa theo ý nhà vua.
Thiên biết Lăng từ hồi hai người còn làm lang trung, tuy không đi lại chơi bời, nhưng
mến phục Lăng là người can đảm có phong thái của người quốc sĩ, nên tâu :
- Lý Lăng mang năm nghìn quân thâm nhập vào nước địch, đánh nhau với quân địch
mạnh, luôn mười ngày liền, giết và làm bị thương vô số. Vua tôi Thuyền Vu sợ hãi,
đem tất cả kỵ binh toàn quốc bao vây. Lăng một mình hăng hái chiến đấu ở ngoài
ngàn dặm, tên hết, đường về bị cắt, cứu binh không đến, người chết và bị thương
chồng như núi, nhưng nghe Lý Lăng hô hào, binh lính đều phấn chấn vuốt máu, chảy
nước mắt giơ nắm tay không, xông vào mũi nhọn cùng Hung Nô quyết chiến. Thần
cho rằng Lý Lăng có thể sánh với những danh tướng ngày xưa. Nay tuy thất bại,
nhưng xem ông ta còn muốn có cơ hội báo đáp nước nhà.
Ông hy vọng lời nói của mình có thể giảm nhẹ tội Lý Lăng, không ngờ Vũ Đế càng
giận, cho ông cố ý đề cao Lăng để chê Lý Quảng Lợi nhút nhát không lập nên công
lao gì, mà Quảng Lợi lại là anh của Lý phu nhân rất được nhà vua yêu quý. Vũ Đế
bèn sai bắt giam Tư Mã Thiên giao cho Đỗ Chu xét xử.
Nhân vật Đỗ Chu đã được Thiên nói đến trong Khốc lại truyện. Có người trách y,
“Ông thay nhà vua coi pháp luật, tại sao không căn cứ vào pháp luật mà xét, trái lại
chỉ lo chìu theo ý nhà vua?” Đỗ Chu đáp, “Luật lệnh ở đâu mà ra ? Chẳng phải do
nhà vua mà ra đó sao?” Gặp phải bọn quan lại như vậy, cố nhiên ông không có cách
nào khỏi tội.
Bấy giờ có phép lấy tiền chuộc tội. Chỉ cần năm mươi vạn đồng tiền là chuộc được tội
chết. Trong bức thư ông viết sau này cho Nhâm An, một người bạn cũ sắp bị chém,
một người cùng chung cảnh ngộ (Xem thư trả lời Nhâm An). Ông đã kể lại nỗi cay
đắng của mình. Nhà ông nghèo, ông mải mê theo đuổi sự nghiệp của mình quên cả
gia sản, nên không sao chuộc được tội. Bạn bè, thân thích, không ai nói hộ một lời,
không ai giúp cho một đồng . Kết quả, con người ngang tàng, hai mươi ba tuổi đầu đi
khắp Trung quốc, nhà học giả lớn nhất của thời đại, con người ôm cái hoài bão làm
Chu Công, Khổng Tử, cuối cùng bị khép vào tội “coi thường nhà vua”, và bị thiến !
Đã mấy lần uất ức quá, ông nghĩ đến việc tự vẫn. Những ông thấy rằng nếu chết đi thì
chẳng ai khen mình là tử tiết, mà thế tục sẽ bảo đó là vì xấu hổ mà tự sát. Vả chăng, sự
nghiệp chưa tròn, Sử ký còn dở dang, lời dặn của cha còn đó. Ông gạt nước mắt, nói ,
“Người ta ai cũng có một lần chết, có cái chết nặng như Thái Sơn, có cái chết nhẹ như
lông hồng”, và cố gắng gượng sống.
Cái ấn tượng nhục nhã, cô độc theo dõi ông cho đến khi chết. Mỗi khi nghĩ đến cái
nhục bị hình phạt, mồ hôi vẫn cứ đầm lưng ướt áo! Nhưng ông không vì thế mà chán
nản. Trái lại, ông càng tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Ông thấy rõ hình phạt đó là
một thử thách đối với những “người trác việc phi thường”. Ông càng thấy cần phải
viết “cho hả điều căm giận”. Và chính cái hình phạt nhục nhã ấy đã làm cho ông hiểu
rõ cái mặt trái của xã hội phong kiến và dũng cảm đứng về phía nhân dân. Ông trở
thành nhà sử gia vĩ đại của một nhân dân vĩ đại.
Quyển Sử ký trước kia là ý nghĩa của đời ông, bây giờ còn là nơi ông giải bày nổi lòng
uất ức. Càng cảm thấy nhục nhã, ông càng thấy thiết tha với công việc, đem cả tâm
huyết gửi vào cái tác phẩm vĩ đại, hy vọng rằng dù mình tàn phế, bị ô nhục, nhưng
quyển sách kia sẽ thay mình nói với cuộc đời.
Ở ngục ra, ông được làm trung thư lệnh. Đó là một chức quan to, ở gần vua, được ra
vào cung cấm, xem tất cả các tài liệu mật. Tuy ở chức quan cao như vậy, nhưng ông
chỉ cảm thấy xấu hổ vì đó là chức quan chỉ dành cho những hoạn quan.
Hiện nay người ta vẫn chưa biết ông mất vào năm nào. Người ta chỉ biết ông viết bức
thư trả lời cho Nhâm An năm ông 53 tuổi (-93), và sau đó không có những tài liệu gì
về ông. Theo Vương Quốc Duy trong Thái sử công hành niên khảo có lẽ ông mất năm
60 tuổi (-86) cùng một năm với Vũ Đế.
Quyển Sử ký như tác giả nó nói, không phải viết ra để mưu danh tiếng trước mắt. Sau
khi ông chết, cũng không mấy ai biết đến nó. Quyển này được cất kỹ mãi đến thời
cháu ngoại của ông là Dương Vận, thời Tuyên Đế mới được công bố.
Ngoài Sử ký, ông còn làm một công việc khác cũng rất quan trọng. Năm –104, ông
cùng Công Tôn Khanh Hồ Toại sửa lại lịch cũ, chế định Hán lịch. Âm lịch còn dùng
đến ngày nay là công trình của nhóm này, trong đó ông đóng vai trò chủ chốt.
II. TÁC PHẨM
Sử ký là một tác phẩm đồ sộ, tất cả 52 vạn chữ, 130 thiên, gồm năm phần : Bản kỷ,
biểu, thư, thế gia, liệt truyện .
1. Bản kỷ – chép sự tích của các đế vương, gồm có : Ngũ đế (Hoàng đế, Chuyên Húc,
Cốc, Nghiêu, Thuấn)
2. Hạ, Thương, Chu - mỗi thời đại một bản kỷ
3. Tần hai bản kỷ - một bản kỷ từ khi có nước Tần đến Tần Thuỷ Hoàng; một bản kỷ
về Tần Thuỷ Hoàng.
4. Hạng Vũ
5. Các bản kỷ về nhà Hán : Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ.
Tất cả có 12 bản kỷ, nhưng hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ. Vương
Túc đời Nguỵ nói, “Vũ Đế nghe nói ông ta viết Sử ký bèn lấy bản kỷ của Hiếu Cảnh
và của mình xem, giận lắm vứt đi, cho nên phần này chỉ có mục đề thôi, không viết
gì”. Về sau Chử Toại Lương lấy những phần này ở quyển Hán Thư của Ban Cố để điền
vào cho đủ. Điều đó không phải không có lý vì Tư Mã Thiên có thái độ rất nghiêm
khắc đối với các vua chúa, cũng không kiêng nể gì ông vua đang sống mà ông đã
công kích mãnh liệt trong phần Phong thiện thư. Chính vì thế, Vương Doãn đời Hậu
Hán gọi Sử ký là một quyển “báng thư” (một quyển sách phỉ báng). Mục đích của bản
kỷ là chép lại sự việc của những người, những nước có tác dụng chi phối cả thiên hạ.
Ngay ở đây, trong cách sắp đặt của ông cũng có những điều đời sau không dám nghĩ
đến. Ông chép riêng lịch sử nước Tần, trước Tần Thuỷ Hoàng thành một bản kỷ, vì
trong thời Chiến quốc, nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước . Ông
làm bản kỷ Lữ Hậu, mặc dầu Lữ Hậu chỉ là thái hậu chứ không trị vì trên danh nghĩa.
Trái lại, ông không làm bản kỷ của Huệ Đế, mặc dù trên danh nghĩa, Huệ Đế vẫn là
vua. Đó là vì, tuy Huệ Đế làm vua nhưng tất cả quyền hành đều nằm trong tay Lữ
Hậu. Đặt một người đàn bà lên địa vị “kỷ cương” một nước, là điều không một sử gia
nào đời sau dám làm. Táo bạo hơn, ông dành cho Hạng Vũ những trang đẹp nhất,mặc
dù Hạng Vũ chưa làm đế, là kẻ thù của nhà Hán. Đó cũng là vì ông tôn trọng sự khách
quan. Hạng Vũ tuy về danh nghĩa không phải là người làm chủ các chư hầu đánh lại
nhà Tần (đó là địa vị của Nghĩa đế), nhưng trong thực tế, người có công lớn nhất
trong việc tiêu diệt nhà Tần, người phong đất cho chư hầu cai trị thiên hạ trong năm
năm, chính là Hạng Vũ. Các bản kỷ cung cấp cho người đọc, cái nhìn khái quát về
từng thời đại để sau đó đi sâu vào từng sự kiện và từng nhân vật.
2. Biểu : Để có cái nhìn đối chiếu các sự kiện hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ
vào sự tương quan đồng thời giữa các nước, Tư Mã Thiên lập ra mười biểu gồm có :
1. Thế biểu thời tam đại
2. Niên biểu mười hai nước chư hầu.
3. Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc
4. Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở.
5. Niên biểu các nước chư hầu từ thời Hán.
6. Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ
7. Niên biểu các nước chư hầu thời Huệ Đế và Cảnh Đế.
8. Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên.
9. Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế.
10. Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên.
Những bản biểu là những công trình khoa học rất quý, ghi chép, năm, tháng, biến cố,
giúp cho các nhà sử học hiểu được vị trí của từng sự kiện và sự tương quan của nó về
thời gian cũng như về không gian với các sự kiện khác, đặc biệt ở trong một nước
mênh mông lại chia cắt phân tán như Trung quốc cổ.
3. Thư : Lịch sử một nước chủ yếu là lịch sử của những thiết chế của nó. Tư Mã Thiên
nhận thấy điều đó nên viết tám “thư” dành cho tám mặt. Điều này cũng biểu hiện rằng
ông có một kiến thức bách khoa. Tám thư ấy là :
1. Lễ thư
2. Nhạc thư
3. Luật thư
4. Lịch thư
5. Thiên quan thư
6. Phong thiện thư
7. Hà cừ thư
8. Bình chuẩn thư
Phần này rất quý về mặt nghiên cứu. Tác giả nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về
lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn, v…v… qua các thời đại. Điều làm chúng ta
hết sức ngạc nhiên là ông có những hiểu biết chính xác về mọi mặt và ở đâu ông cũng
có những nhận xét tổng quát rất thấu đáo. Thiên “Phong thiện thư”, nói về những mê
tín, cúng tế, của vua chúa với một giọng châm biếm chua chát. Thiên “Hà cừ thư” nói
về các con sông đào ở Trung quốc. Thiên “Bình chuẩn thư” nói về kinh tế. Những
thiên này viết chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính
những sai sót trong các sách cổ, nói về những thiết chế xã hội. Chúng làm ta thấy tác
giả có một cái nhìn duy vật vào lịch sử và thấy tầm quan trọng của những sự kiện kinh
tế, khoa học, văn hoá đối với lịch sử một nước. Rất tiếc vì phạm vi quyển tuyển tập
hạn chế, chỉ có thể giới thiệu được thiên “Bình chuẩn thư”, và do đó, không thể nào
nêu lên được một cái nhìn toàn diện của một bộ óc vĩ đại.
4. Thế gia : Phần thế gia bao gồm 30 thiên, chủ yếu nói đến lịch sử các chư hầu, chẳng
hạn các nước Tề, Lỗ, Triệu, Sở, v…v… Những người có địa vị lớn trong quý tộc như
các thái hậu, những người được phong một nước như Chu Công, Thiệu Công, và
những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình, v…v… Đáng chú ý nhất là
tác giả xếp vào thế gia hai người thường dân không hề có một tấc đất phong. Đó là
Khổng Tử, một người có địa vị đặc biệt trong lịch sử tư tưởng của Trung quốc, và
Trần Thiệp, anh chàng cố nông đã cầm đầu cuộc nông dân khởi nghĩa đầu tiên của
lịch sử dân tộc Hán. Cách nhìn như vậy chứng tỏ một tầm con mắt khác thường.
5. Liệt truyện : Danh từ này do chính tác giả đặt ra. Phần này gồm 70 thiên bao gồm
những nhân vật khác nhau và những sự việc rất khác nhau. Đáng để ý trước hết là
phần liệt truyện dành cho những nước ở ngoài địa bàn Trung quốc mà ông là người
đầu tiên đưa vào lịch sử với tính cách những bản khái quát đứng đắn và khoa học
(Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Đại Uyển, Hung Nô). Cố nhiên, một phần
liệt truyện sẽ dành cho những người tai mắt trong xã hội cũ như những danh tướng
(Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh), những người làm quan to (Trương Thích Chi,
Công Tôn Hoằng, v…v..) Điều đáng chú ý nhất ở đây là ông đã nhìn thấy vai trò to
lớn của những con người bình thường, thường không có chức tước gì nhưng có ảnh
hưởng vô cùng sâu rộng đối với cả dân tộc. Đó là những du hiệp, những thích khách,
trọng nghĩa, khinh tài mà ông đã ghi lại trong những trang sôi nổi (Thích khách Liệt
truyện, Du hiệp Liệt truyện). Đó là những nhà tư tưởng mà tác phẩm của ông đã ghi
lại cuộc đời, hành trang và đánh giá học thuyết (Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh,
v..v..) Đó là những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Nhu mà ông nêu lên
giá trị và nhận xét về nghệ thuật. Đó là những thầy thuốc, thầy bói, thậm chí những
anh hề mà trong con mắt của ông lời nói có thể xếp vào Lục Kinh. Và cố nhiên một
con người yêu nhân dân và sự thật như Tư Mã Thiên không thể nào quên những tên
sâu, mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn “khốc lại” chỉ lo a dua nhà vua, tàn sát
dân lành, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện mà ông
mạt sát bằng những lời phẩn nộ. Thế giới của Tư Mã Thiên bao la như vậy! Quy mô
của tác phẩm làm ta ngợp, bút lực của tác giả làm ta sợ. Đối với những người yêu văn
học Trung quốc, tác phẩm đưa đến một cảm giác rất lạ. Ở đây có cái biến ảo của Nam
Hoa Kinh, có cái rạch ròi của Hàn Phí Tử. Nhưng còn một cái nữa mà văn học từ Hán
trở về trước (trừ Kinh Thi) không thấy có, đó là ý thức bám chắc vào sự thực, không
rời cuộc sống dù chỉ nửa bước. Chúng ta cảm thấy mình đứng cả hai chân trần trên
mảnh đất của sự thực.
Ấn tượng ấy đến với chúng ta không phải ngẫu nhiên. Đó là vì Sử ký chính là Tư Mã
Thiên sống, và con người ấy sống với những tư tưởng lớn.
III. TƯ TƯỞNG
Tư Mã Thiên tự định nghĩa mình là một con người “bất cơ”. “Bất cơ” tức là không
chịu trói buộc mình theo tập tục, vượt ra ngoài lề thói. Chẳng hạn hai mươi tuổi, cha
còn sống, vẫn cứ “viễn du” đi khắp địa bàn Trung quốc, đó là một hành động bất cơ.
Nhà vua đặt chức sử quan chẳng qua chỉ để ghi chép việc làm của vua, ăn ở đâu, ngồi
ở đâu, ngủ ở đâu, nói câu gì, v..v…từng một ngày. Và thế là tròn trách nhiệm. Nhung
ông lại muốn “nối nghiệp Khổng Tử, soi sáng cho đời, chỉnh lý được Dịch Truyện,
tiếp tục được Kinh xuân Thu nắm được cái gốc của Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ,
Kinh Nhạc, tóm lại ông muốn làm một Khổng Tử thứ hai ngay trong thời đại chuyên
chế cực độ. Đó cũng là một ý nghĩ “bất cơ”.
Tư Mã Thiên là con người của một giai đoạn lịch sử rất cụ thể. Lúc ông lên sáu thì
Hán Vũ Đế lên ngôi, và ông chết cùng một năm với Vũ Đế. Thời Vũ Đế chính là lúc
uy tín nhà Hán đạt đến cực điểm, biểu lộ tất cả cái vĩ đại, huy hoàng làm người ta
ngợp mắt. Trong Bình Chuẩn Thư, tác giả đã nói đến cái cảnh tượng phồn thịnh ban
đầu, kho đạn đầy rẫy, tiền tiêu không thể hết, dân ăn gà, thịt, có ngựa hàng đàn. Uy tín
nhà Hán đã đạt đến trình độ xưa nay chưa hề có. Biên giới phía Nam đến Nam Việt,
phía Bắc đến Triều Tiên, buôn bán giao thông với Trung Á, Ấn độ, La Mã. Thành phố
tấp nập, cung điện nguy nga. Năm – 138 trước Công Nguyên, Trương Khiên đi sứ về
phía Tây, qua Hung Nô đến tận miền Trung Á thuộc Liên Xô ngày nay (gọi gộp là Tây
Vực). Nước nhà thống nhất, chế độ tập quyền cực thịnh, tất nhiên đưa đến những sự
thay đổi về văn hoá. Vũ Đế nghe lời Đổng Trọng Thư bãi truất bách gia, độc tôn nho
học. Thời đại “trăm nhà đua tiếng” đến đây chấm dứt. Văn học chuyển thẳng sang
việc ca ngợi lâu đài, ngựa xe, vườn tược nhà vua, mà tiêu biểu nhất là những bài phú
của Tư Mã Tương Như. Bấy giờ trước mắt những con người học rộng tài cao có hai
con đường. Con đường thứ nhất là vứt bỏ cái mộng làm một sự nghiệp to lớn, thừa
nhận trong hoàn cảnh này chỉ còn một cách là làm một anh hề, sống qua ngày đoạn
tháng ở trước cửa Kim mã. Đó là con đường của Đông Phương Sóc, của hầu hết tất cả
các học giả đương thời. Lại có một con đường khác “xét trong khoảng trời đất, thấu
suốt sự biến đổi từ xưa đến nay, làm thành lời nói của một nhà.” Đó là con đường làm
một Khổng Tử thứ hai, không phải ở trong hoàn cảnh Xuân Thu, Chiến quốc mà ở
trong hoàn cảnh chuyên chế cực thịnh. Tư Mã Thiên đã chọn con đường ấy, và điều
đó cắt nghĩa tại sao con người này sống bơ vơ, lạc lõng, tội nghiệp như vậy.
Cái gì đã khiến ông làm một việc bất cơ như vậy ? Đó là vì ông thấy mình gắn liền với
số phận của dân chúng. Ông thấy cái vẻ thái bình, phồn thịnh trước mắt chỉ là tạm
thời. Bọn vua chúa lợi dụng hoàn cảnh yên ổn càng ra sức bóc lột, đàn áp nhân dân,
gây chiến tranh để mở rộng đất đai, xây cung thất, dựng lâu đài, tế phong thiên… Cái
cảnh phồn vinh tan đi như một giấc mơ. Nhân dân nhao nhác cùng cực, bọn khốc lại
xuất hiện ra sức chém giết, hàng chục vạn người bị tù đày, trong ngoài điêu đứng tan
hoang, làm cho nhà Hán tưởng chừng sẽ lao theo bánh xe nhà Tần đã mất. Ông không
thể làm một anh hề như Đông Phương Sóc tìm cách sống an thân hay một thứ nhà văn
như Tư Mã Tương Như lúc chết còn khuyên nhà vua làm lễ phong thiện. Chính cái
thời Vũ Đế đã làm cho ông thấy tất cả cái vinh dự được làm con người Trung quốc.
Nó đưa đến cho ông cái ý thức về sự vĩ đại, bao la và thống nhất của tổ quốc mà ông
yêu quý. Nhưng càng yêu quý tổ quốc, ông càng gắn bó với nhân dân. Và do đó, bức
tranh ông vẽ đương thời không phải là một bức tranh khoa trương tráng lệ như một
bài phú của Trương Như, mà nó đầy vẻ bi hùng. Cái mâu thuẫn đau đớn này trong tư
tưởng đã đẻ ra cách quan niệm về sử hết sức độc đáo, xứng đáng gọi là một cống hiến
về tư tưởng. Có thể nói, Tư Mã Thiên là sử gia đầu tiên trên thế giới viết về lịch sử của
một nước. Trước đấy, ở Trung quốc chỉ có những người viết lịch sử một công quốc
hay kể lại một vài biến cố quan trọng như Xuân Thu Thượng Thư. Những bộ sử như
Lịch Sử của Hêrôđôt (481-425). Lịch sử chiến tranh ở Pelpôônne của Thuxiđit (460396) trong văn học Hy Lạp hay Chiến Tranh ở Gôlơ của Xêđa trong văn học La Mã,
chẳng qua chỉ kể lại một trận đánh hay một chiến dịch.
Quyển Lịch sử La Mã của Titut Livut (69- 17) sau Sử ký viết toàn bộ lịch sử một đô
thị, nhưng đó chỉ là lịch sử một đô thị. Sử ký thì khác, nó là lịch sử của toàn bộ dân
tộc Trung hoa kéo dài trên ba ngàn năm từ Hoàng Đế đến Vũ Đế và bao gồm một địa
bàn mênh mông. Chính vì có ý thức rất rõ về tính chất thống nhất và tiếp tục của lịch
sử, nên tác giả mới có hai phần khác nhau là biểu và bản kỷ, lại có phần thế gia nói
những điểm chủ yếu trong lịch sử từng công quốc. Không những thế, ông cũng là
người đầu tiên nói về những dân tộc mà người ta gọi là “mọi rợ” và ở đây tuyệt nhiên
không có thái độ khinh miệt.
Ông cũng là người đầu tiên viết một quyển thông sử bao gồm mọi mặt của xã hội.
Ông chú ý đến tất cả, đọc tất cả, biết tất cả kiến thức của thời đại. Những thiên Hà Cừ
Thư, Bình Chuẩn Thư, viết với nhãn lực của một nhà kinh tế học. Ông tìm thấy sự liên
quan giữa kinh tế với luật pháp và chính trị. Ông đặc biệt chú trọng đến những thiết
chế về văn hoá như lễ, nhạc, văn học. Ông đã làm cái công việc phi thường là xét tất
cả các học thuyết của bách gia, trình bày và phê phán, làm công việc của một nhà tư
tưởng sử. Ông là người đầu tiên cho ta biết về Khuất Nguyên và sự đánh giá của ông
về Khuất Nguyên là quyết định. Quả thật ông đã làm được cái hoài bão to lớn nhất của
một con người. Ông đã tổng kết văn hoá Trung quốc lần thứ hai sau Khổng Tử và
xứng đáng với lời khen của Quách Mạt Nhược “công lao của Tư Mã Thiên so với
Khổng Tử không hơn không kém”.
Phương pháp viết sử của ông cũng rất đáng chú ý. Tư Mã Thiên nói, “tôi chỉ thuật lại
chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có phải sáng tác đâu.”. Câu nói này
thể hiện đúng cái quan điểm của tác giả và sử. Ngày nay chúng ta không nắm được tất
cả những tài liệu ông đã dùng, nhưng có một điều chắc chắn là ông không bao giờ
thay đổi tài liệu. Những nhân vật thời Ân, Chu, chính là những nhân vật của Thượng
Thư, những nhân vật thời Xuân Thu, Chiến Quốc là những nhân vật của Xuân Thu,
Quốc Ngữ, Tả Truyện, Chiến quốc sách. Lời nói của họ là lời họ nói trong thực tế,
theo những tài liệu tin cậy nhất. Những bài văn bia của nhà Tần là do chính tay tác giả
chép lại. Và ông đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng văn kiện vô giá, nào chế,
biểu, nào văn bia, thư phú, bài hát, lời ca, cả những bài nghị luận rất dài, tất cả chiếm
một phần ba tác phẩm; trong số đó phần lớn còn sống đến ngày nay vì nó gắn liền với
số phận của Sử Ký. Đành rằng, đây đó, có những chi tiết sai lầm vì tài liệu lúc bấy giờ
số lớn là tài liệu truyền miệng. Nhưng nói chung ông hết sức nghiêm túc. Quan niệm
viết sử này khác xa quan niệm những nhà viết sử cổ Hy Lạp, La Mã. Các nhà viết sử
cổ đại, trừ Thuxiđit, thường xem sử là một công trình nghệ thuật. Những nhân vật của
họ đọc những bài diễn văn rất hay, nhưng do họ sáng tác ra, những nhân vật ấy tồn tại
với tính cách những giả thuyết tiêu biểu cho chính kiến của họ. Chính vì vậy sử học
hiện đại không xem đó là những công trình khoa học, không ai lấy đó làm cơ sở chính
cho sự nghiên cứu La Mã, Hy Lạp cổ. Trái lại, Sử Ký từ trước đến nay vẫn là uy tín lớn
nhất của cổ sử Trung hoa. Bất kỳ ai muốn nghiên cứu bất kỳ phương diện nào của
Trung quốc cổ cũng không thể coi thường nó. Trịnh Tiểu nói, “một trăm đời sau, các
sử quan không thể thay đổi cái phép tắc của ông, kẻ học giả không thể bỏ quyển sách
của ông”, chính là vì vậy.
Tư Mã Thiên là người cha của sử học Trung hoa, nhưng là một người cha khó bắt
chước nhất. Đối với sử học Trung quốc, ông là người duy nhất nói về đương thời. Các
sử gia về sau chỉ viết về một triều đại khi triều đại ấy đã chấm dứt. Họ sợ hiện tại và
lẩn tránh nó. Trái lại Tư Mã Thiên đã dành một nửa tác phẩm cho giai đoạn từ Hạng
Vũ đến Vũ Đế, và việc càng gần, ông chép càng rõ. Ông để lại những trang vô cùng
sinh động về Cấp Ám, con người dám nói thẳng sự thực, không kiêng nể gì Vũ Đế.
Ông kết tội Lữ Hậu, nêu bản tính lưu manh của Cao Tổ, phơi bày một bức tranh đau
thương về xã hội trước mắt. Ông đau xót trước cái cảnh vua chúa mê tín (Phong thiện
thư), phung phí tài sản nhân dân (Bình Chuẩn Thư), ngoại thích lộng hành (Nguỵ Kỳ
Vũ An Hầu liệt truyện), quan lại tàn ác (Khốc lại liệt truyện), nhà nho cầu an, giả dối
(Công Tôn Hoằng truyện, Thích Tôn Thông truyện). Ông run sợ cho tương lai. Và
chính ở đây, người ta mới hiểu hết cái tâm sự của ông, lòng yêu nước, yêu nhân dân
cũng như sự trung thực của một nhà khoa học.
Nhưng quan trọng hơn hết, ông hiểu tác phẩm của ông là viết cho ai. Ông nói quyển
Sử Ký viết cho “những người của nó”. Người của nó đây không phải là một vị ân chủ,
một mỹ nhân, mà là nhân dân vĩ đại và bất tử. Ông có ý thức rõ về việc đó, cho nên
hai ngàn năm sau đọc Sử Ký, ta thấy nó sinh động, mãnh liệt vô cùng, đồng thời tràn
ngập cái hào khí của chính nghĩa. Nhìn vào quyển sách của ông, ta thấy hiện lên rõ rệt
sự bất bình đẳng trong xã hội, cảnh nghèo khổ của những nông dân mất hết đất đai,
sự giàu có phè phỡn cua bọn phong kiến, con buôn lớn. Ta thấy bức tranh hiện thực
về xã hội mà bọn bồi bút phong kiến cố hết sức che đậy bằng những danh từ trống
rỗng. Cố Viêm Võ nói rất đúng, “Người xưa làm sử không cần bàn luận, nhận xét , mà
cái ý của tác giả thấy ngay trong việc trình bày thì chỉ có một mình Thái sử công làm
được mà thôi”. Cái khó ở đây không ở phương pháp mà ở con tim. Cũng vì Tư Mã
Thiên không viết tác phẩm theo những khuôn khổ có sẵn về đạo đức phong kiến, nên
những nhận xét của ông về lịch sử rất là trác việt.
Ông luôn luôn lấy quyền lợi của nhân dân, lấy sự sống của họ để đánh giá nhân vật
lịch sử. Đặc biệt khi viết lịch sử nhân vật nào, ông cũng nêu rõ sự gắn bó của nhân vật
với số phận của dân chúng. Ông thấy rõ Trần Thiệp “tài năng ở dưới mức trung bình”,
nhưng đã làm được một việc oanh liệt, chỉ vì được dân chúng ủng hộ. Sự phân tích
của ông về sự thành công của Lưu Bang và sự thất bại của Hạng Vũ có một ý nghĩa to
lớn. Dưới con mắt của ông, Hạng Vũ là một con người phi thường “tài năng và chí khí
hơn người”, “từ cận cổ đến nay chưa ai có được như thế”. Về tư cách cá nhân mà nói,
thì Lưu Bang kém Hạng Vũ về tất cả mọi mặt. Hạng Vũ là viên tướng bách chiến bách
thắng, quân chư hầu sợ Hạng Vũ đến nỗi “đi bằng đầu gối, không ai dám ngẩng lên
nhìn”. Hạng Vũ thương người và trọng nghĩa. Trái lại Lưu Bang là một người “không
lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái”, ngạo mạn, vô lễ, “thấy khách đội mũ nhà nho, Bái
Công liền giật lấy mũ đái vào trong”. Thế nhưng cuối cùng Lưu Bang lại lấy được
thiên hạ. Đó là vì Lưu Bang biết tự kiềm chế mình, lắng nghe theo lòng dân, luôn luôn
chú ý đến dân chúng cho nên dân chúng tin. Đúng như Hàn Tín nói, Hạng Vũ chỉ có
cái nhân của người đàn bà, cái dũng của một kẻ thất phu, tiếc tiền, tiếc đất, chỉ tin vào
tài năng của cá nhân mình, nghi ngờ tất cả; đã thế lại hiếu sát làm cho nhân dân thất
vọng. Lưu Bang đã thắng vì biết dựa vào dân, tận dụng tài năng các tướng. Cách nhìn
nhận như vậy rất đúng và khoa học. Nó làm người ta nhớ đến những tác phẩm của
Makiaven, ở đây, Tư Mã Thiên có thể sánh với những sử gia lớn nhất của thời cổ đại.
IV. NGHỆ THUẬT
Tư Mã Thiên đã để lại hàng ngàn nhân vật điển hình, sống mãi trong văn học. Riêng
về mặt này, ông có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân loại. Cả một nhân
loại mênh mông hiện ra trước mắt chúng ta, đủ các thành phần, đủ các nghề nghiệp,
đủ các tầng lớp. Hình ảnh những chàng nông dân như Trần Thiệp, Ngô Quảng, những
người du thuyết như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Thư, những hiệp khách như Kinh
Kha, Nhiếp Chính, những anh hàng thịt như Chu Hợi, Cao Tiệm Ly, những triết gia
như Khổng Khâu, Trang Chu, nhưn...
 





