Học Bác mỗi ngày. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo
Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
HỒNG LÂU MỘNG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Hoàng Giang
Ngày gửi: 15h:10' 29-12-2023
Dung lượng: 6.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Trần Hoàng Giang
Ngày gửi: 15h:10' 29-12-2023
Dung lượng: 6.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HỒNG LÂU MỘNG
Tác giả: Tào Tuyết Cần
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Lời giới thiệu
Trong lịch sử văn học Trung Quốc. Hồng Lâu Mộng có một vị trí đặc biệt. Người
Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về nó(1), sáng tác về nó đến nỗi nói: “Khai đàm
bất thuyết Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!” (Mở miệng mà không nói Hồng Lâu
Mộng thì đọc hết cả thi thư cũng vô ích!). Có một ngành học chuyên nghiên cứu về
gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in chuyên san “Hồng Lâu Mộng
nghiên cứu”. - Có lẽ trên thế giới chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như
thế, vì có “Shakespeare học”. Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng lâu mộng “như
điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời
đại. Thời nhà Thanh, dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 - 1795) là
thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công nghiệp, mà cả khai thác
mỏ, thương nghiệp...cũng phát triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh,
Dương Châu, Võ Xương, Nhạc Châu... buôn bán, sản xuất sầm uất là những đô thị
lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn
nửa triệu dân! Nền kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong kiến
chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra một tầng lớp người thành thị,
những người này có những nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu đơn đình, Cổ
kim tiểu thuyết, Liêu Trai... là những tác phẩm tả tình yêu, những số phận, những
buồn vui cá nhân..., chính là sự “thăng hoa” của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về
chất của người thành thị. Hồng lâu mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời đại:
tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán
những giáo điều truyền thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương,
giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao một lý tưởng cho cuộc sống...Tất
cả những cái đó có những mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh,
nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân đương thời. Giữa những khát
vọng sâu xa ấy của con người thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã
có một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng.
o0o
Tác giả chính của Tào Tuyết Cần 1716(?) - 1763(?) giống như phần lớn các nhà văn
lớn Trung Hoa trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để ký thác
những suy tư về con người và thời đại. Ông vốn sinh ra trong một gia đình đại quý
tộc. Từ đời tằng tổ đến đời cha, thay nhau tập chức “Giang ninh chức tạo” là một chức
quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà
họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà vua với gia đình ông ra sao ! Và cũng có thể đoán
biết cuộc sống trong phú Giang hồi đó xa hoa, vương giá như thế nào ! Trong Nguyên
phi về thăm nhà có một buổi mà nhái xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại quan,
nữa là hoàng đế tuần du ngự đến nhà.Nhà ông chăng những là hào môn vọng tộc hiển
hách như thế, lại còn có truyền thống văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, đứng in bộ
"Toàn Đường Thi trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả "Luyện đình thi sao”. Nhưng
cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua, đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần
lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sán,
nhà họ Tào suy sụp và ông phải về sống ờ vùng ngoại ô phía tây thành Bắc Kinh
trong cảnh: “cả nhà rau cháo, ruợu thường mua chịu”. Hồng Lâu Mộng do đó có thể
xem là phản quang những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan vỡ
đó. Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy hoàng của vàng son lộng lẫy,
cảm thấy tất cả nhuốm màu thê lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy
diệt, tất cả đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng Hư Vô, bằng siêu hình,
bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc sống nghèo khó hôm nay, quay đầu
nhìn lại thì cái khoảng cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan
hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trái về cuộc sống thối nát của giai
cấp quý tộc và sự miêu tả khách quan "những quan hệ hiện thực” này làm ông trở
thành một nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyến được "niềm lạc quan
về cái trật tự hiện tồn", và như thế, ông là sản phẩm của một thời đại, đồng thời đã
nhìn xa hơn thời đại. Tào Tuyết Cần đề 10 năng dế viết 80 hồi đầu, Hồng Lâu Mộng:
“Xem ra chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chửa,
trong cảnh cùng khốn, ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cánh đứa con yếu của
ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khố dồn dập đó. Bình sinh, ông vẽ giỏi,
hay thơ, thích rượu, cuồng phong. Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi! Hai mươi
tám năm sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoáng 1792 - 1793 thì Hồng
Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp trung Quốc. Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì
không thể hay bằng những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao Ngạc
đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn thành dự định của Tào Tuyết Cần
và nối tiếp bút lực của người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của tác
phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn mãnh liệt.(2)
BI KỊCH TÌNH YÊU VÀ Ý NGHĨA TÌNH YÊU TRONG HỒNG LÂU MỘNG
Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên suốt qua toàn bộ tác
phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết vĩ đại này. Giả Bảo Ngọc và Lâm
Đại Ngọc, hai anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé; lớn lên, vì Bảo Ngọc
được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn Đại quan cùng với đám “quần
thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện
“lửa gần rơm...”. Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai nhân là nợ sẵn”.
Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu
nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ “đồng
điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa cuộc sống. Nói cho đúng, lúc
đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc,
những Tập nhân, Tình văn... những người này là những phụ nữ xuất thân từ tầng lớp
dưới, được họ Giả mua về hầu hạ, nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt
đẹp. Họ chính là mót bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy dẫy những hạng
đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng
của họ, anh ta như một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu... của những nữ
tỳ - đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái
“nguyên lý nữ tính” rất xa lạ với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong
kiến: “Xương thịt con gái là nước kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ
nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bấn”. Trong phủ Giả lúc đó
còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ. Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp
nhà phong kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng đôi lúc cũng
thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc “gần cô chị thì quên khuấy cô em”!
Nhưng rồi dần dần, Bảo Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu
đuối, là một tâm hồn dễ cám xúc, một tâm hồn nhạy cảm và phong phú - đó là một
tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả
nhà chờ mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì Bảo Ngọc lại
chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó, và người hiểu anh duy nhất là Đại
Ngọc. Bảo Ngọc, chàng trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương gấm
vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ pháp... để ràng buộc theo con
đuờng vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên
lúc nào anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phán kháng lại. Như một con
chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc
sống không yên ổn. Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền ngộ
đạo” …nhưng những cái đó không cung cấp được cho anh một vũ khí tư tưởng nào
để tự giải phóng! Mà thực ra, thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản
phẩm đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu thuẫn, một xã hội đang
tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh
hiền” đã viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”. Đối với đạo
đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta
dám nói những lời “cách mệnh”: “Nhũng bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết
vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của kẻ đại trượng phu, thành
ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ
lo ra công đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai. Thật là lời lẽ của
ké “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất
của anh chàng này, còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng cũi
tuân phục “di huấn thánh nhân”. Trong hoàn cánh đó, Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã
đến với nhau không dễ dàng. Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là
cháu ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giá mẫu xem là “người ngoài”: “nữ nhân ngoại tộc”. Cái
mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm nàng đau khổ - nàng vốn là người nhiều tự ái
là người nhạy cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình cảnh của
nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con gái, là phận ở nhờ, mà trong cái
xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một
cánh hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho nên nàng luôn
buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt
mưa thu hay tơ liễu bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái “đa
sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng nhưng xuất phát từ những điều
kiện của thời đại. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến
với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày tháng không yên. Trong
tình yêu này, họ chưa được hưởng bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu,
họ đã linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây trong trùng điệp của
mạng lưới phong kiến. Họ không phải là người quyết định được tình yêu của mình.
Cuối cùng, Giả mẫu và bọn phu nhân trong phu họ Giả đã quyết định! Họ đã chọn
Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ đã nhẫn tâm theo kế “đánh
tráo” của Phượng Thư. Bảo Ngọc cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che
mặt, lại là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại Ngọc thì sau
cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong
lúc cả nhà mừng đám cuởí của người mình yêu! Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc
trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau khổ.
THI PHÁP NHÂN VẬT HỒNG LÂU MỘNG
Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới mang ý nghĩa thời đại; nó
còn làm được một việc vĩ đại nữa là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn
nói: “Từ khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị phá vỡ”.
Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc,
Thủy hử, Tây du. .. thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên ngoài và lời nói
của nhân vật. Con người trong những tiểu thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế
nông nghiệp mang tính chất phương thức sản xuất châu á, có bề giản đơn, nhất quán
trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường. Những truyện ngắn “truyền kỳ”,
những truyện ngắn trong Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân
với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng vẫn chứa có một thi pháp
tiểu thuyết thực sự phản ánh một cách nhìn mới về con người. Hồng Lâu Mộng đã làm
được việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời đại. Dù cho có những
nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh tề hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân...
xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà người ta chờ
đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã
mang một số nhân tố mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể đi
xa hơn nũa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung tiểu thuyết chương hồi truyền
thống, lấy “kể việc” làm phương tiện chủ yếu khám phá của con người. Nhưng, xét
cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng là rất có ý nghĩa. Trước
hết, đó là cách nhìn con người trong sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện
chứng, có chiều sâu đầy kịch tính. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc đã được tác giả
miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn gĩưa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng
nề của gia đình và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu như
chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như chẳng làm được gì, chẳng chiến
đấu dũng manh gì để đoạt lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi
chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt tập thơ..., không phải là
không có lý! Anh ta chưa bao giờ xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng,
kiên định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại, anh ta sinh ra đau thần
kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi
kịch. Cuối cùng giải pháp “đi tu” - phản ánh sự từ chối, sự phản kháng dầu yếu ớt - đã
được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để an ủi gia dình, rồi bó trốn đi tu, Bảo
Ngọc đã đi hết sự phát triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh ta,
như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có sự thể hiện một phần nào
bản thân tác giả. Đó đúng là một số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này.
Lâm Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc, nhưng do thân phận
của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự
tuyệt... “Bảo Ngọc cười nói: - Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng
nước nghiêng thành.(3) Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ bừng lên, lập tức
dựng ngược lông mày, như cau lại mà không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà
không phải trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo Ngọc: - Anh
nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem nhũng lời lẳng lơ suồng sã lăng nhăng để khinh
nhờn tôi! Tôi về mách cậu mợ đấy”. (tập I) Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và
tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không một nét giả dối, nàng là
một nhân vật đã hiện ra với chiều sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình yêu, qua
những quan hệ khác. Phút cuối cùng nàng nghe nói Bảo Ngọc sắp lấy vợ, và người
được chọn sẽ là người trong phủ, nàng chắc mẫm người đó sẽ là mình, chứa chan hy
vọng, và từ đau buồn tuyệt vọng, trong ốm đau, nàng trở lại sống linh hoạt, tươi đẹp...
Ai hay đó là phút nàng ở gần sự kết thúc nhất. Những cảnh như vậy làm cho nhân vật
thực, gần gũi, phong phú, hấp dẫn.... và về mặt soi rọi tâm lý nhân vật, đã đạt đến
trình độ của nhân vật tiểu thuyết hiện đại. Hồng Lâu Mộng có tất cá 235 nhân vật đàn
ông, 213 nhân vật dàn bà (một khối lượng nhân vật khổng lồ! – trong Chiến tranh và
hòa bình có chừng 500 nhân vật). Làm chủ chừng ấy nhân vật, miêu tả, cá tính hóa họ
một cách có hiệu quả là một sáng tạo phi thường. Trong số đó, nổi bật lên sự mô tả và
xây dựng nhân vật Tiết Bảo Thoa. Tiết Bảo Thoa là một tính cách gần như đối nghịch
với Lâm Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc; chính những nhân vật trong Hồng Lâu Mộng đã
phát triển trong sự đối nghịch như vậy, làm cho cuốn tiểu thuyết có nhiều gương mặt,
nhiều hợp âm. Tiết Bảo Thoa là một nhân vật phụ nữ lý tính. Nàng còn ít tuổi mà đầy
bản lĩnh, ở nàng tất cả đều đúng mực, hợp lý, lô-gích, nàng là hiện thân của nguyên lý
đạo đức phong kiến. Bao giờ nàng cũng là một người con gái sống cho gia đình, sống
cho ý định người khác - và ý định đó luôn được nàng chấp nhận vì đó cũng chính là
của nàng. Sự hòa hợp giữa nàng và gia pháp phong kiến là điều hoàn toàn tự nguyện.
Nàng là người có học, xem nhiều sách, biết làm thơ, nhưng hãy nghe nàng tâm sự
(cũng là răn đe Đại Ngọc): “Bọn con gái chúng ta không biết chữ càng tốt... Ngay đến
cả việc làm thơ, viết chữ đã không phải là phận sự chị em mình, mà cũng không phải
phận sự của bọn con trai nữa. Người con trai đọc sách nhiều phải hiểu nghĩa lý để ra
giúp dân trị nước mới đúng...”(tập III). Với Bảo Ngọc, một người không yêu nàng,
nhưng nàng theo sự sắp đặt của bề trên, lấy Bảo Ngọc không một chút tự ái; nàng làm
bổn phận của người vợ, khuyên giải chồng, “lý sự” với chồng: “... chứ bây giờ gặp
đến vua thánh, nhà ta mấy đời đội ơn triều đình, cha ông được hưởng biết bao sung
sướng...”(tập IV). Nếu nói “bản chất” và “bản lĩnh” giai cấp thì quả nàng là hiện thân
của giai cấp. Nàng có ác không? Có. Khi con hầu Kim Xuyến nhảy xuống giếng tự tử,
Vương phu nhân cảm thấy lương tâm cắn rứt, nhưng nàng thì không, nàng tươi cười,
an ủi đổ lỗi cho Kim Xuyến và nói: “Dì cũng chẳng nên lo lắng buồn bã làm gì, chỉ
cần cho vài lạng bạc làm ma cho nó là trọn tình chủ tớ rồi”. Nàng có giả dối không?
Có. Nàng đã bày kế “ve sầu lột xác” để đánh lừa bọn con hầu, tránh điều bất lợi cho
mình. Bảo Thoa lúc nào cũng tỉnh táo, cũng lắm mẹo! Nhưng nàng có đáng thương
không? Nàng ít nhiều cũng yêu Giả Bảo Ngọc mà tự kiềm chế, và cuối cùng, với tất cả
sức lực và nghị lực, với tất cả sự chân tình, nàng muốn có hạnh phúc trong cuộc sống
phong kiến với Bảo Ngọc, nhưng rốt cuộc nàng cũng trở thành một nhân vật bi kịch.
Bi kịch của nàng là bi kịch của một người trung thành với đạo đức phong kiến. Gần
với tính cách của Tiết Bảo Thoa là Vương Hy Phượng. Đó cũng là một nhân vật nữ hết
sức đặc sắc nữa. Những nhân vật như thế làm chúng ta nhớ nhiều đến Hoạn Thư của
Nguyễn Du. Đó là sự miêu tả trung thành với bản chất củaa hiện thực, bản chất của
những mối quan hệ phong kiến, đồng thời nó là một sự cá tính hóa hết sức sâu sắc.
Ngoài ra con biết bao nhiêu nhân vật đáng lưu ý nữa trong cái thế giới bao la của
Hồng Lâu Mộng. Dường như đó là cả một nhân loại: trong đó có hàng trăm số phận,
và mỗi số phận đưa đến cho chúng ta một mảnh đời, một suy nghĩ về nhân thế. Nhà
lý luận tiểu thuyết nổi tiếng Bakhtin có nói rằng nhân vật tiểu thuyết phải có phần “dư
thừa nhân tính”. Có nghĩa là nhân vật, ngoài vai trò xã hội (đẳng cấp, nghề nghiệp)
phải có cái phần dư thừa nhân tính, cái phần nhu cầu nhân tính, cái phần cá tính tự do
mà tấm áo xã hội không chứa đựng hết. Nhân vật của Hồng Lâu Mộng vừa là giai cấp
xã hội vừa là những nhân vật mang tính người, tính toàn nhân loại, ở trong họ có cái
phần “người” và những nhân vật như vậy bao giờ cũng là một phát hiện, có sức hấp
dẫn rất mạnh. * Hồng Lâu Mộng là cả một thế giới. Thông qua cuộc sống từ thịnh đến
suy của một gia đình quý tộc, tác giả đã làm hiển hiện sự băng hoại của xã hội phong
kiến, của nhân tính phong kiến, đã cho ta thấy một xã hội như thế là không phương
cứu chữa! Không phải chỉ vì bọn người ấy sống trên áp bức và bóc lột địa tô, mà cái
chính là cuộc sống trống rỗng của bọn họ; ngày và đêm trong cái phủ họ Giả ấy chỉ
toàn là những chuyện giành giật, lừa gạt, dâm dật, tự tử, tội ác... Một vài khuôn mặt
lương thiện - trong đó khá nhiều là thuộc tầng lớp dưới, như già Lưu, như Tập Nhân .
. . không cứu nỗi sự sụp đỗ tất yếu của nó. Hồng Lâu Mộng đã đưa đến cho người đọc
những hiểu biết sâu xa về xã hội và về con người với một cách viết chân thực, giản dị
mà bao gồm nhiều bút pháp lớn kim cổ. Nó là một cuốn bách khoa sinh động về xã
hội Trung Quốc thời xưa. Về mặt thi pháp nghệ thuật, thì đó là một bước tiến mới
trong nghệ thuật tiểu thuyết của thế giới. Hồng Lâu Mộng xứng đáng đứng ngang với
các kiệt tác của nhân loại.
25- 10 - 1988
Mai Quốc Liên.
-----------------------------------------------------(1). Theo thống kê có đến 900 loại.
(2). Cao Ngạc (? - ?) tự Lan Thự, tác giả 40 hồi sau Hồng Lâu Mộng và Lan Thu thi
sao, Lan Thự văn tồn, Nghiễn hương từ... tự Vân Sĩ, biệt hiệu Hồng Lâu ngoại sĩ
(Hồng Lâu Mộng vốn tên Thạch đầu ký. Có lẽ Cao Ngạc là người đặt tên nó là
Hồng Lâu Mộng). Làm quan dưới triều Kiền Long, Gia Khánh, trải các chức Nội các
thị tộc, Hình khoa cấp sự trung, Nhập tịch Mãn Thanh (Kỳ quán “nhương hoàng” màu vàng pha).
(3). Dùng chữ trong Tây sương ký.
Tài liệu tham khảo chính:
- Lịch Sử Văn học Trung Quốc (Nguyên - Minh - Thanh). Sở nghiên cứu Văn học
thuộc Viện Khoa Học Trung Quốc, Bắc Kinh, 1962. Bản dịch Nhà xuất bản Văn học,
Hà Nội, 1964.
- Bùi Kỷ; Lời giới thiệu, Hồng lâu mộng tập 1. Nhà xuất bản Văn hóa. Hà Nội, 1962.
- Tào Tuyết Cần dữ Hồng lâu mộng. quyển thượng. Thế giới thư cục, Singapore, 1973.
Hồi thứ nhất
Hồi thứ nhất này lả hồi mở đầu của cuốn sách(1).
Người làm sách xin nói: “Trải qua quãng đời mộng ảo, nên có ý giấu những việc thực,
mượn chuyện “Hòn đá thiêng” mà viết ra bộ Thạch đầu ký này; vì vậy tôi đặt nhân vật
của tôi là Chân Sĩ Ẩn...(2). Trong sách chép việc gì? Người nào? Người làm sách lại
xin nói: “Nay tôi đã sống cuộc đời gió bụi, không làm nên trò trống gì. Chợt nghĩ đến
những người con gái ngày trước cùng sống với tôi, so sánh kỹ lưỡng, thấy sự hiểu biết
và việc làm của họ đều hơn tôi. Tôi đường đường là bậc tu mi, lại chịu kém bạn quần
thoa, thực rất đáng thẹn! Bây giờ hối cũng vô ích, biết làm thế nào! Tôi nghĩ trước kia
được ơntrời, nhờ tổ, mặc đẹp, ăn ngon, mà phụ công nuôi dạy của cha mẹ, trái lời răn
bảo của thầy bạn, đến nỗi ngày nay một nghề không thành, nửa đời long đong, nên
muốn đem những chuyện đó chép thành một bộ sách bày tỏ với mọi người. Tôi biết
rằng mang tội rất nhiều. Nhưng trong khuê các còn biết bao người tài giỏi, tôi không
thể nhất thiết mượn cớ ngu dại muốn che giấu lỗi mình, để cho họ bị mai một. Cho
nên, đám cỏ lều tranh, giường tre bếp đất, cùng cảnh gió sớm trăng chiều, sân hoa
thềm liễu, đều thúc giục tôi thực hiện lòng mong ước dúng bút mực viết ra lời. Dù tôi
học ít, hạ bút không viết nên văn, tôi cũng chẳng ngại gì mượn lời nôm na thêu dệt
bày tỏ ra đây câu chuyện để mua vui cho mọi người. Vì vậy tôi lại đặt nhân vật là Giả
Vũ Thôn(3)...”. Đó là đầu đề và ý chính của hồi này. Mở đầu cuốn truyện, thấy câu
phong trần mơ người đẹp, chắc ai cũng biết người viết sách vốn chỉ ghi chép những
chuyện bạn bè, tình tứ trong khuê các, chứ không có ý chửi đời. Tuy có một vài chỗ
nói đến nhân tình thế thái, nhưng đó là bất đắc dĩ, mong độc giả nhớ cho.
Lẵng dẵng trên đời khéo khổ công,
Tiệc tùng rốt cuộc chỉ là không.
Muôn trò mừng tủi đều hư ảo,
Một giấc xưa nay rõ viển vông.
Vạt thắm nào riêng người đẫm lệ,
Tình ngây còn vướng hận ôm lòng.
Xem ra chữ chữ toàn bằng huyết,
Cay đắng mười năm khéo lạ lùng.
Độc giả! Các bạn bảo sách này do đâu mà ra? Nói nguồn gốc nó thì dáng như hoang
đường; nhưng xem kỹ rất thú vị. Tôi xin kể rõ lai lịch để độc giả khỏi lầm:
Khi xưa Nữ Oa luyện đá vá trời(4) ở đỉnh Vô Kê trên núi Đại Hoang, luyện được ba
vạn sáu nghìn năm trăm linh một viên, mỗi viên cao mười hai trượng, vuông hai mươi
bốn trượng. Nhưng bà chỉ dùng ba vạn sáu nghìn năm trăm viên, còn thừa một viên
bỏ lại ở chân núi Thanh Ngạnh. Ngờ đâu viên đá này từ khi được luyện, đã có linh
tính. Nhân thấy những viên đá khác được đem vá trời, còn mình vô tài, bị loại, nó rất
tủi hận, ngày đêm kêu khóc buồn rầu.
Một hôm, nó đương than phiền chợt thấy một nhà sư, một đạo sĩ, cốt cách phong độ
khác thường, cười cười nói nói, từ đàng xa đi đến bên núi Thanh Ngạnh, rồi ngồi bên
hòn đá nói chuyên. Lúc đầu hai người còn nói những chuyện núi mây, bể mù, thần
tiên, huyền ảo, sau nói đến vinh hoa phú quý dưới cõi hồng trần. Hòn đá nghe thấy,
bất giác động lòng phàm tục, cũng muốn xuống đó hưởng mùi vinh hoa phú quý,
nhưng thấy mình thô kệch càng thêm tủi phận. Sau bất đắc dĩ nó mượn tiếng người,
cất giọng hỏi:
- Thưa hai sư phụ! Đệ tử là vật ngu xuẩn xin thất lễ! Vừa qua nghe hai vị sư phụ nói
chuyện về cảnh phồn hoa dưới trần gian, trong lòng đệ tử rất thầm mến, đệ tử tuy ngu
xuẩn, nhưng cũng có chút linh tính. Vả lại thấy hai vị sư phụ có vẻ tiên phong đạo
cốt, chắc chắn không phải hạng người tầm thường, nhất định có tài vá trời, cứu thế, có
đực xót vật, thương người! Nếu được hai vị sư phụ mở lòng từ bi, mang đệ tử xuống
cõi trần cho đệ tử hưởng ít năm giàu sang êm ấm, thì đệ tử xin đời đời kiếp kiếp ghi
nhớ ơn sâu.
Nghe xong, hai vị sư, đạo cả cười:
- Khéo thật! Khéo thật! Trong cõi hồng trần đành rằng có nhiều thú vị, nhưng không
phải là nơi nương náu lâu dài. Huống chi “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan” tám
chữ này thường đi liền với nhau. Rồi trong chớp mắt, vui hết đến buồn, người thay
cảnh đổi, rút cuộc chỉ là giấc mộng, muôn cõi đều trở thành không! Như thế chẳng
thà đừng xuống là hơn.
Nhưng lửa trần rực cháy trong lòng, thì dù có nới thế nào cũng khó mà lọt vào tai hòn
đá được. Nó cứ kêu nài mãi. Hai vị sư biết không thể ngăn cản nổi, liền thở dài mà
rằng:
- Đây cũng là cái số kiếp tinh lắm muốn động, có là từ không mà ra đó thôi! Đã vậy,
ta sẽ mang ngươi đi, cho ngươi hưởng thụ, nhưng khi bất như ý thì ngươi đừng hối.
Hòn đá nói:
- Tất nhiên! Tất nhiên!
Nhà sư nói:
- Ngươi bảo ngươi có linh tính nhưng sao lại dại dột ngu ngốc thế? Thật là ngươi
chẳng có quý báu, chẳng kỳ lạ ở chỗ nào cả, chỉ đáng dẫm chân lên thôi. Nhưng thôi,
ta sẽ giở hết phép phật, giúp ngươi một tay. Khi nào mãn kiếp, ngươi trở lại bản chất
của mình, thế là kết liễu số phận. Ngươi thấy thế nào?
Hòn đá nghe xong, cảm ơn không ngớt. Nhà sư liền niệm chú viết bùa, dở hết phép
thuật, làm cho hòn đá kếch sù ấy phút chốc hóa ra viên ngọc báu trong sáng long
lanh, thu hình lại nhỏ bằng viên ngọc đeo dưới dây quạt, có thể cầm hoặc đeo vào
người được. Nhà sư nâng lên trên tay, cười nói:
- Coi hình dáng ngươi thì cũng là vật báu đây, chỉ hiềm một nỗi không có giá trị thực;
bây giờ ta khắc mấy chữ, để mọi người trông thấy, biết ngay ngươi là vật lạ. Ta sẽ
mang ngươi đến một nơi thịnh vượng, một họ dòng dõi, một chốn phồn hoa, giàu
sang êm ấm, cho ngươi được an thân lạc nghiệp.
Hòn đá mừng rỡ hỏi:
- Không biết sư phụ viết vào những chữ gì? Và mang đi đâu? Dám xin sư phụ nói rõ
để đệ tử khỏi áy náy.
Nhà sư cười nói:
- Ngươi chớ hỏi vội, sau này sẽ biết.
Nói đoạn, nhà sư để hòn đá vào trong tay áo, cùng đạo sĩ phơi phới ra đi, không biết
về hướng nào.
Trải qua không biết mấy đời mấy kiếp, có vị Không Không đạo nhân đi cầu tiên học
đạo, qua đỉnh Vô Kê núi Đại Hoang, đến chân núi Thanh Ngạnh, chợt trông thấy một
hòn đá lớn, trên mặt có khắc chữ kể rõ lai lịch. Không Không đạo nhân xem từ đầu
đến cuối, biết rằng nó là một hòn đá không đủ tài vá trời, muốn biến làm người, đã
được hai vị Mang Mang đạo sĩ Diều Diều chân nhân đưa nó xuống trần nếm đủ mùi
đời lạnh nhạt, tan hợp bi hoan. Mặt sau lại có một bài kệ:
Tài đâu toan những vá trời,
Uổng công đày xuống cõi đời bấy lâu.
Từ kiếp trước đến kiếp sau.
Biết nhờ ai chép mấy câu truyền kỳ?
Sau đó, ghi rõ hòn đá này xuống đâu, đầu thai vào đâu, trải qua đoạn đường thế nào,
cả đến những việc vụn vặt trong gia đình, tình từ, thơ tứ trong khuê các, đều chép đủ
cả, xem ra cũng có thú vị đỡ buồn, nhưng không biết từ thời đại nào, ở địa phương
nào và nước nào?
Không Không đạo nhân liền hỏi:
- Này Thạch huynh, cứ như lời anh nói thì câu chuyện này của anh rất thú vị, nên mới
viết rõ vào đây, muốn để lưu truyền việc lạ ấy cho đời. Nhưng ta xem, một là không
biết vào thời đại nào, hai là đây không phải việc thiện chính của bậc đại hiền đại trung
để sửa sang triều đình, chỉnh đốn phong tục, chẳng qua toàn là chuyện một vài người
con gái kỳ quặc, hoặc là người đa tình, hoặc là người si tình, hoặc là người tài năng
tầm thường, chứ không có cái tài cái đức của ả Thái, nàng Ban. Giả sử ta có sao lại, sợ
người đời không xem thôi.
Hòn đá cười mà rằng:
- Thưa sư phụ, sao người nghĩ lẩn thẩn thế Nếu bảo không có thời đại tra cứu, thì sư
phụ cứ việc mượn niên hiệu đời Hán, đời Đường mà viết vào, có khó gì đâu. Nhưng
tôi thiết tưởng những chuyện trong dã sử xưa nay đều theo một lối như nhau; sao bằng
chuyện của tôi không theo khuôn sáo cũ, chỉ ghi chép những sự việc và tình cảm tôi
đã trải qua, mới là mới mẻ ít có! Việc gì phải đòi hỏi cho có triều đại mới được kia
chứ! Vả chăng những người tục ở nơi kẻ chợ rất ít đọc sách nói về đạo lý sửa sang
triều đình, chỉnh đốn phong tục, phần đông chỉ thích xem những chuyện vụn vặt, lại
có thu vị. Gẫm trong dã sử xưa nay, biết bao chuyện dân chê vua quan, hoặc là nói
xấu vợ con người ta, đầy rẫy những gian dâm hung ác, kể sao cho xiết; lại còn những
ngòi bút chỉ viết về chuyện gió trăng dâm dục xấu xa, di hại trong văn mặc, làm hư
hỏng cả con em người ta. Đến những sách nói về giai nhân tài tử, thì nghìn bộ đều
tìl~o một khuôn sáo, đầy rẫy nhưng Phan An, Tử Kiến, Tây Tử, Vân Quân, đã thế rút
cục vẫn không khỏi sa vào phù phiếm. Người làm sách chẳng qua muốn viết vài bài
thơ tình của mình, nên đã cố ý đặt ra một đôi trai gái, rồi xen một thằng tiểu nhân vào
quấy rối, ví như vai hề trong tấn tuồng. Lại có những bọn tòi đòi, mở miệng là chi hồ
giả dã, hết đạo lý đến văn chương, cho nên nếu xem từ đầu đến cuối thì toàn là những
việc mâu thuẫn nhau chẳng có gì là hợp tình hợp lý hết. Sao bằng mấy người con gái
này mà nữa quảng đời tôi đã trông thấy, nghe thấy, tuy không dám ví với những người
trong các sách thuở xưa, nhưng xem đầu đuôi câu chuyện, cũng có thể đỡ buồn. Lại
có mấy bài thơ nhảm nhí, cũng có thể làm cho người đọc cười bật cơm ra và nhân vui
uống thêm mấy chén rượu. Còn như những cảnh hợp tan vui buồn, thịnh suy và
những cảnh ngộ thay đổi, từ đầu đến cuối đều theo sát sự thực không thêm bớt tô vẽ
chút nào, không vì chiều lòng người đọc mà xuyên tạc sự thực. Hiện giờ người nghèo
thì ngày lo cơm áo; kẻ giàu lại nảy lòng tham khôn cùng, rỗi mụt chút là họ nghĩ ngay
đến dâm dục, sắc đẹp, giàu sang, sầu não, còn hơi nào đọc sách nữa. Vì vậy cuốn
truyện của tôi cũng không muốn được đời khen ngợi và mọi người thích đọc. Chỉ
mong khi tỉnh rượn, lúc tàn canh, hoặc khi họ muốn trốn đời, tìm đường tiêu khiển,
họ đem truyện tôi ra xem, có lẽ tôi sẽ giúp họ đừng đeo đuổi những việc hão huyền
cho tốn tuổi thọ, như thế tức là tránh được miệng thế khen chê, khỏi phải chạy vạy
đây đó. Hơn nữa nó cũng ...
Tác giả: Tào Tuyết Cần
Biên tập Ebook: http://www.SachMoi.net
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
Lời giới thiệu
Trong lịch sử văn học Trung Quốc. Hồng Lâu Mộng có một vị trí đặc biệt. Người
Trung Hoa say mê đọc nó, bình luận về nó(1), sáng tác về nó đến nỗi nói: “Khai đàm
bất thuyết Độc tận thi thư diệc uổng nhiên!” (Mở miệng mà không nói Hồng Lâu
Mộng thì đọc hết cả thi thư cũng vô ích!). Có một ngành học chuyên nghiên cứu về
gọi là Hồng học; gần đây nhất vẫn thấy Trung Quốc in chuyên san “Hồng Lâu Mộng
nghiên cứu”. - Có lẽ trên thế giới chỉ có Shakespeare là có một vinh dự lớn lao như
thế, vì có “Shakespeare học”. Cái gì làm người Trung Quốc say Hồng lâu mộng “như
điếu đổ” vậy? Trước hết, đó là do tác phẩm đáp ứng những nhu cầu sâu xa của thời
đại. Thời nhà Thanh, dưới thời các hoàng đế Ung Chính, Càn Long (1723 - 1795) là
thời kinh tế phồn vinh, chẳng những công nghiệp, thủ công nghiệp, mà cả khai thác
mỏ, thương nghiệp...cũng phát triển mạnh mẽ. Các thành thị lớn như Nam Kinh,
Dương Châu, Võ Xương, Nhạc Châu... buôn bán, sản xuất sầm uất là những đô thị
lớn. Chỉ kể một thị trấn như Thanh Giang bên bờ Vận Hà thôi mà thời đó đã có hơn
nửa triệu dân! Nền kinh tế tự phát tư bản chủ nghĩa đó trong lòng xã hội phong kiến
chuyên chế mọt ruỗng và đang trên đà tan rã, đã đẻ ra một tầng lớp người thành thị,
những người này có những nhu cầu thẩm mỹ mới. Tây Sương Ký, Mẫu đơn đình, Cổ
kim tiểu thuyết, Liêu Trai... là những tác phẩm tả tình yêu, những số phận, những
buồn vui cá nhân..., chính là sự “thăng hoa” của cuộc sống đã bắt đầu khác trước về
chất của người thành thị. Hồng lâu mộng là sự thể hiện những tư tưởng của thời đại:
tinh thần dân chủ, tinh thần phê phán đời sống xã hội phong kiến mục nát, phê phán
những giáo điều truyền thống đã ăn sâu bén rễ hàng ngàn năm, đòi tự do yêu đương,
giải phóng cá tính, đòi tự do bình đẳng, khát khao một lý tưởng cho cuộc sống...Tất
cả những cái đó có những mặt kế thừa tư tưởng dân chủ thời Minh và đầu Thanh,
nhưng nó chính là sản phẩm của ý thức tư tưởng thị dân đương thời. Giữa những khát
vọng sâu xa ấy của con người thời đại và sự biểu hiện nó ra một cách nghệ thuật, đã
có một cuộc hẹn hò tuyệt diệu qua Hồng Lâu Mộng.
o0o
Tác giả chính của Tào Tuyết Cần 1716(?) - 1763(?) giống như phần lớn các nhà văn
lớn Trung Hoa trong lịch sử, viết văn là để giải tỏa nỗi niềm “cô phẫn”, là để ký thác
những suy tư về con người và thời đại. Ông vốn sinh ra trong một gia đình đại quý
tộc. Từ đời tằng tổ đến đời cha, thay nhau tập chức “Giang ninh chức tạo” là một chức
quan to thu thuế. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà
họ Tào, đủ biết sự sủng ái của nhà vua với gia đình ông ra sao ! Và cũng có thể đoán
biết cuộc sống trong phú Giang hồi đó xa hoa, vương giá như thế nào ! Trong Nguyên
phi về thăm nhà có một buổi mà nhái xây cất bao nhiêu đình tạ trong vườn Đại quan,
nữa là hoàng đế tuần du ngự đến nhà.Nhà ông chăng những là hào môn vọng tộc hiển
hách như thế, lại còn có truyền thống văn chương. Ông nội ông, Tào Dần, đứng in bộ
"Toàn Đường Thi trứ danh, và là một nhà thơ, tác giả "Luyện đình thi sao”. Nhưng
cuộc sống vàng son đó của gia đình ông đã trôi qua, đã tan vỡ. Lúc Tào Tuyết Cần
lớn lên thì tất cả đã ở đằng sau rồi: cha bị khép tội, bị cách chức, bị tịch biên gia sán,
nhà họ Tào suy sụp và ông phải về sống ờ vùng ngoại ô phía tây thành Bắc Kinh
trong cảnh: “cả nhà rau cháo, ruợu thường mua chịu”. Hồng Lâu Mộng do đó có thể
xem là phản quang những hồi ức của Tào Tuyết Cần về cuộc sống quý tộc đã tan vỡ
đó. Một mặt, đó là sự nhớ tiếc khôn nguôi những huy hoàng của vàng son lộng lẫy,
cảm thấy tất cả nhuốm màu thê lương, hư vô, tất cả đều xê dịch về phía bế tắc, hủy
diệt, tất cả đều đáng ân hận, và chỉ có thể cứu chuộc bằng Hư Vô, bằng siêu hình,
bằng tôn giáo! Nhưng mặt khác, từ trong cuộc sống nghèo khó hôm nay, quay đầu
nhìn lại thì cái khoảng cách lớn lao đó làm cho ông thấy được rõ hơn, khách quan
hơn, bình tĩnh hơn những gì ông đã thấy, đã nếm trái về cuộc sống thối nát của giai
cấp quý tộc và sự miêu tả khách quan "những quan hệ hiện thực” này làm ông trở
thành một nhà hiện thực. Chí ít thì về mặt đó, ông đã lay chuyến được "niềm lạc quan
về cái trật tự hiện tồn", và như thế, ông là sản phẩm của một thời đại, đồng thời đã
nhìn xa hơn thời đại. Tào Tuyết Cần đề 10 năng dế viết 80 hồi đầu, Hồng Lâu Mộng:
“Xem ra chữ toàn bằng huyết, cay đắng mười năm khéo lạ lùng”; năm lần sửa chửa,
trong cảnh cùng khốn, ốm đau không tiền chạy thuốc, trong cánh đứa con yếu của
ông chết. Và ông đã lìa đời trong cảnh đau khố dồn dập đó. Bình sinh, ông vẽ giỏi,
hay thơ, thích rượu, cuồng phong. Người ta chỉ biết được về ông có thế thôi! Hai mươi
tám năm sau khi ông mất, Cao Ngạc viết tiếp 40 hồi, đến khoáng 1792 - 1793 thì Hồng
Lâu Mộng được in và lưu truyền khắp trung Quốc. Những hồi Cao Ngạc viết tiếp thì
không thể hay bằng những hồi Tào Tuyết Cần viết, nhưng cũng phải nói là Cao Ngạc
đã sống với tác phẩm và tri âm tác giả, nên đã hoàn thành dự định của Tào Tuyết Cần
và nối tiếp bút lực của người đi trước, hoàn thành và bộc lộ trọn vẹn tư tưởng của tác
phẩm, khiến cho tác phẩm vẫn giữ được vẻ hấp dẫn mãnh liệt.(2)
BI KỊCH TÌNH YÊU VÀ Ý NGHĨA TÌNH YÊU TRONG HỒNG LÂU MỘNG
Câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuyên suốt qua toàn bộ tác
phẩm, làm nên chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết vĩ đại này. Giả Bảo Ngọc và Lâm
Đại Ngọc, hai anh em cô cậu ruột, cùng ở chung một nhà từ bé; lớn lên, vì Bảo Ngọc
được bà nội nuông chiều, riêng cho ở trong vườn Đại quan cùng với đám “quần
thoa”, nên anh ta và Đại Ngọc gần gũi nhau. Nhưng đây không phải là câu chuyện
“lửa gần rơm...”. Đây cũng không phải chỉ là câu chuyện “tài tử giai nhân là nợ sẵn”.
Tình yêu của họ còn có nguyên cớ sâu xa hơn nhiều; họ nói như Saint Exupéry: “Yêu
nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng”, nghĩa là họ “đồng
điệu”, “tri âm” lẫn nhau trên những vấn đề có ý nghĩa cuộc sống. Nói cho đúng, lúc
đầu Bảo Ngọc cũng còn có chút phân vân. Anh ta sống giữa đám a hoàn nhan sắc,
những Tập nhân, Tình văn... những người này là những phụ nữ xuất thân từ tầng lớp
dưới, được họ Giả mua về hầu hạ, nhưng đó là những người có tình, có phẩm chất tốt
đẹp. Họ chính là mót bức màn ngăn bụi trần của phủ Vinh quốc đầy dẫy những hạng
đàn ông ô trọc. Bảo Ngọc cảm nhận được thực chất vị tha, quên mình đầy dịu dàng
của họ, anh ta như một người được vây bọc bởi sự tận tụy, thương yêu... của những nữ
tỳ - đồng thời cũng là “nữ thần” này. Do đó không lạ gì mà Bảo Ngọc đã nêu lên cái
“nguyên lý nữ tính” rất xa lạ với tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong
kiến: “Xương thịt con gái là nước kết thành. Tôi trông thấy con gái thì người tôi nhẹ
nhàng, khoan khoái, thấy con trai thì như bị phải hơi dơ bấn”. Trong phủ Giả lúc đó
còn có cô em họ Tiết Bảo Thoa ở nhờ. Bảo Thoa đẹp, đức hạnh, nết na theo đúng nếp
nhà phong kiến. Bảo Ngọc cũng mến Bảo Thoa, gần nàng, anh chàng đôi lúc cũng
thấy xiêu xiêu, quả có như lời Lâm Đại Ngọc “gần cô chị thì quên khuấy cô em”!
Nhưng rồi dần dần, Bảo Ngọc chỉ yêu có Đại Ngọc thôi. Đại Ngọc kiều diễm, yếu
đuối, là một tâm hồn dễ cám xúc, một tâm hồn nhạy cảm và phong phú - đó là một
tâm hồn thơ đích thực; và đó là điều mà họ gặp nhau. Quan trọng hơn, là trong khi cả
nhà chờ mong Bảo Ngọc học giỏi thi đỗ, làm quan giữ nếp nhà…, thì Bảo Ngọc lại
chán ngấy cái con đường mòn nhàm chán đó, và người hiểu anh duy nhất là Đại
Ngọc. Bảo Ngọc, chàng trai được nhốt trong cái lồng kính quý tộc đầy cao lương gấm
vóc, anh ta được người ta dùng gia giáo, thi giáo, lễ pháp... để ràng buộc theo con
đuờng vạch sẵn. Giả Bảo Ngọc bị mất tự do, và anh ta cảm thấy sâu sắc điều đó, nên
lúc nào anh ta cũng vùng vẫy tìm lối thoát, tìm cách phán kháng lại. Như một con
chim khao khát trời xanh rộng lớn bị nhốt vào cái lồng vàng chật hẹp, Giả Bảo Ngọc
sống không yên ổn. Anh lục lọi sách vở, đi vào triết học cổ, đi vào “tham thiền ngộ
đạo” …nhưng những cái đó không cung cấp được cho anh một vũ khí tư tưởng nào
để tự giải phóng! Mà thực ra, thì anh cũng lẩn quẩn, loanh quanh; anh ta là một sản
phẩm đầy mâu thuẫn của một xã hội cũng đang chứa đầy mâu thuẫn, một xã hội đang
tìm lối ra nhưng không có lối ra. Rốt cuộc, anh ta tỏ thái độ hoài nghi những gì “thánh
hiền” đã viết, đã soạn, cho đó là “soạn bậy”, là “bịa”, là “nói tầm bậy”. Đối với đạo
đức phong kiến mà cái cao nhất là “tôi trung con hiếu”, “sát thân thành nhân”, anh ta
dám nói những lời “cách mệnh”: “Nhũng bọn mày râu dơ bẩn, chỉ biết “quan văn chết
vì lời can gián, quan võ chết vì đánh giặc”, là hai cái chết của kẻ đại trượng phu, thành
ra chỉ làm rối lên, nào có biết đâu có vua ngu mới có bầy tôi chết vì lời can gián; chỉ
lo ra công đánh giặc, liều mình hy sinh, tương lai sẽ bỏ nước cho ai. Thật là lời lẽ của
ké “đại nghịch vô đạo”. Tất nhiên, nói cho công bằng, đó là một đôi ý nghĩ đột xuất
của anh chàng này, còn như bình thường, anh ta vẫn phải nép mình trong lồng cũi
tuân phục “di huấn thánh nhân”. Trong hoàn cánh đó, Lâm Đại Ngọc đã đến. Họ đã
đến với nhau không dễ dàng. Đại Ngọc vì gia cảnh đến ở nhờ trong phủ họ Giả, tuy là
cháu ngoại đấy, nhưng vẫn bị Giá mẫu xem là “người ngoài”: “nữ nhân ngoại tộc”. Cái
mặc cảm “ăn bám ở nhờ” luôn luôn làm nàng đau khổ - nàng vốn là người nhiều tự ái
là người nhạy cảm, khó hòa hợp với chung quanh và do đó cô đơn. Tình cảnh của
nàng còn bi đát hơn Bảo Ngọc nhiều, vì nàng là con gái, là phận ở nhờ, mà trong cái
xã hội ghê khiếp ấy, thì nàng chẳng là cái gì cả, nàng chỉ là một cánh bèo dạt, một
cánh hoa rơi! Cho nên nàng thương hoa, khóc hoa, chôn hoa, cho nên nàng luôn
buồn thương vô hạn. Tâm hồn nàng như một sợi tơ đàn mảnh mai, bất kể một giọt
mưa thu hay tơ liễu bay đều âm vang một điệu buồn đứt ruột! Cái yếu đuối, cái “đa
sầu đa cảm” của nàng cũng là một nét tính cách riêng nhưng xuất phát từ những điều
kiện của thời đại. Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc đã đến với nhau như thế và đã đến
với nhau rồi, hiểu lòng nhau rồi, họ vẫn sống những ngày tháng không yên. Trong
tình yêu này, họ chưa được hưởng bao nhiêu hạnh phúc; chưa nếm mật ngọt tình yêu,
họ đã linh cảm thấy mật đắng của đời! Họ luôn luôn bị bủa vây trong trùng điệp của
mạng lưới phong kiến. Họ không phải là người quyết định được tình yêu của mình.
Cuối cùng, Giả mẫu và bọn phu nhân trong phu họ Giả đã quyết định! Họ đã chọn
Tiết Bảo Thoa cho Bảo Ngọc. Và một khi đã chọn, họ đã nhẫn tâm theo kế “đánh
tráo” của Phượng Thư. Bảo Ngọc cứ yên trí là “cưới em Lâm”, hóa ra lúc giở khăn che
mặt, lại là Bảo Thoa; Bảo Ngọc lúc bấy giờ mới bật ngửa, mà Lâm Đại Ngọc thì sau
cơn ốm nặng, đã chết trong niềm đau đớn, oán hận bằng đốt thơ, đốt khăn tặng trong
lúc cả nhà mừng đám cuởí của người mình yêu! Kết thúc tấn bi kịch này, Bảo Ngọc
trốn nhà đi tu; và Bảo Thoa làm một người góa phụ trẻ đau khổ.
THI PHÁP NHÂN VẬT HỒNG LÂU MỘNG
Hồng Lâu Mộng không những đã đưa lại một nội dung mới mang ý nghĩa thời đại; nó
còn làm được một việc vĩ đại nữa là đổi mới thi pháp tiểu thuyết Trung Quốc. Lỗ Tấn
nói: “Từ khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị phá vỡ”.
Tiểu thuyết Trung Quốc trước đây, chủ yếu là tiểu thuyết chương hồi như Tam quốc,
Thủy hử, Tây du. .. thiên về mô tả hành động, miêu tả hoạt động bên ngoài và lời nói
của nhân vật. Con người trong những tiểu thuyết đó, sản phẩm của một nền kinh tế
nông nghiệp mang tính chất phương thức sản xuất châu á, có bề giản đơn, nhất quán
trong một tính cách, rạch ròi trung, nịnh đôi đường. Những truyện ngắn “truyền kỳ”,
những truyện ngắn trong Liêu Trai đã bắt đầu thấm đẫm màu sắc con người thị dân
với những khát vọng nồng nhiệt hơn, phức tạp hơn nhưng vẫn chứa có một thi pháp
tiểu thuyết thực sự phản ánh một cách nhìn mới về con người. Hồng Lâu Mộng đã làm
được việc đó. Dĩ nhiên là trong những hạn chế gay gắt của thời đại. Dù cho có những
nhân tố tư bản chủ nghĩa, nhân tố kinh tề hàng hóa, thị trường, thành phố, thị dân...
xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội phong kiến, và cái con người “mới” mà người ta chờ
đợi đó đã xuất hiện chưa hoàn chỉnh; thi pháp tiểu thuyết trong Hồng Lâu Mộng đã
mang một số nhân tố mới của tiểu thuyết cận đại phương Tây, nhưng nó không thể đi
xa hơn nũa. Nó vẫn còn bị giam mình trong cái khung tiểu thuyết chương hồi truyền
thống, lấy “kể việc” làm phương tiện chủ yếu khám phá của con người. Nhưng, xét
cho kỹ thì phải ghi nhận những yếu tố mới ở Hồng Lâu Mộng là rất có ý nghĩa. Trước
hết, đó là cách nhìn con người trong sự phát triển đầy mâu thuẫn, sự phát triển biện
chứng, có chiều sâu đầy kịch tính. Số phận và tính cách của Bảo Ngọc đã được tác giả
miêu tả không đơn giản. Đó là mâu thuẫn gĩưa khát vọng tự do và sự ràng buộc nặng
nề của gia đình và xã hội phong kiến. Đó là tình yêu chân thành và quý báu như
chính sinh mệnh của anh ta và lạ thay, anh ta hầu như chẳng làm được gì, chẳng chiến
đấu dũng manh gì để đoạt lấy hạnh phúc! Mọi việc gần như đã phó mặc! Trước khi
chết, Lâm Đại Ngọc oán giận, đau buồn đốt khăn tặng, đốt tập thơ..., không phải là
không có lý! Anh ta chưa bao giờ xứng đáng là một trang “tu mi nam tử” có lý tưởng,
kiên định! Vấp phải những mâu thuẫn nghiệt ngã của thời đại, anh ta sinh ra đau thần
kinh, mắc chứng “ngây”, cứ cười hì hì suốt ngày. Điều đó càng đẩy sâu anh ta vào bi
kịch. Cuối cùng giải pháp “đi tu” - phản ánh sự từ chối, sự phản kháng dầu yếu ớt - đã
được anh ta chọn lựa. Đi thi và thi đỗ cao để an ủi gia dình, rồi bó trốn đi tu, Bảo
Ngọc đã đi hết sự phát triển tính cách một cách hợp lý và quả là qua số phận anh ta,
như một số nhà nghiên cứu nhận định, có sự gởi gắm, có sự thể hiện một phần nào
bản thân tác giả. Đó đúng là một số phận tiểu thuyết theo ý nghĩa hiện đại của từ này.
Lâm Đại Ngọc là một tính cách thú vị khác. Nàng yêu Bảo Ngọc, nhưng do thân phận
của nàng, mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời là nàng lại giận hờn, buồn tủi, làm ra vẻ cự
tuyệt... “Bảo Ngọc cười nói: - Tôi là người nhiều sầu, nhiều bệnh, cô là trang nghiêng
nước nghiêng thành.(3) Đại Ngọc nghe thấy câu ấy, mặt và tai đỏ bừng lên, lập tức
dựng ngược lông mày, như cau lại mà không phải là cau, trố hai con mắt, như trợn mà
không phải trợn. Má đào nổi giận, mặt phấn ngậm hờn, trỏ vào mặt Bảo Ngọc: - Anh
nói bậy, muốn chết đấy! Dám đem nhũng lời lẳng lơ suồng sã lăng nhăng để khinh
nhờn tôi! Tôi về mách cậu mợ đấy”. (tập I) Điều đó làm cho nàng trở nên đáng yêu và
tội nghiệp, làm cho nàng trở nên nhiều nữ tính hơn. Không một nét giả dối, nàng là
một nhân vật đã hiện ra với chiều sâu tâm lý đa dạng, được bộc lộ qua tình yêu, qua
những quan hệ khác. Phút cuối cùng nàng nghe nói Bảo Ngọc sắp lấy vợ, và người
được chọn sẽ là người trong phủ, nàng chắc mẫm người đó sẽ là mình, chứa chan hy
vọng, và từ đau buồn tuyệt vọng, trong ốm đau, nàng trở lại sống linh hoạt, tươi đẹp...
Ai hay đó là phút nàng ở gần sự kết thúc nhất. Những cảnh như vậy làm cho nhân vật
thực, gần gũi, phong phú, hấp dẫn.... và về mặt soi rọi tâm lý nhân vật, đã đạt đến
trình độ của nhân vật tiểu thuyết hiện đại. Hồng Lâu Mộng có tất cá 235 nhân vật đàn
ông, 213 nhân vật dàn bà (một khối lượng nhân vật khổng lồ! – trong Chiến tranh và
hòa bình có chừng 500 nhân vật). Làm chủ chừng ấy nhân vật, miêu tả, cá tính hóa họ
một cách có hiệu quả là một sáng tạo phi thường. Trong số đó, nổi bật lên sự mô tả và
xây dựng nhân vật Tiết Bảo Thoa. Tiết Bảo Thoa là một tính cách gần như đối nghịch
với Lâm Đại Ngọc, Giả Bảo Ngọc; chính những nhân vật trong Hồng Lâu Mộng đã
phát triển trong sự đối nghịch như vậy, làm cho cuốn tiểu thuyết có nhiều gương mặt,
nhiều hợp âm. Tiết Bảo Thoa là một nhân vật phụ nữ lý tính. Nàng còn ít tuổi mà đầy
bản lĩnh, ở nàng tất cả đều đúng mực, hợp lý, lô-gích, nàng là hiện thân của nguyên lý
đạo đức phong kiến. Bao giờ nàng cũng là một người con gái sống cho gia đình, sống
cho ý định người khác - và ý định đó luôn được nàng chấp nhận vì đó cũng chính là
của nàng. Sự hòa hợp giữa nàng và gia pháp phong kiến là điều hoàn toàn tự nguyện.
Nàng là người có học, xem nhiều sách, biết làm thơ, nhưng hãy nghe nàng tâm sự
(cũng là răn đe Đại Ngọc): “Bọn con gái chúng ta không biết chữ càng tốt... Ngay đến
cả việc làm thơ, viết chữ đã không phải là phận sự chị em mình, mà cũng không phải
phận sự của bọn con trai nữa. Người con trai đọc sách nhiều phải hiểu nghĩa lý để ra
giúp dân trị nước mới đúng...”(tập III). Với Bảo Ngọc, một người không yêu nàng,
nhưng nàng theo sự sắp đặt của bề trên, lấy Bảo Ngọc không một chút tự ái; nàng làm
bổn phận của người vợ, khuyên giải chồng, “lý sự” với chồng: “... chứ bây giờ gặp
đến vua thánh, nhà ta mấy đời đội ơn triều đình, cha ông được hưởng biết bao sung
sướng...”(tập IV). Nếu nói “bản chất” và “bản lĩnh” giai cấp thì quả nàng là hiện thân
của giai cấp. Nàng có ác không? Có. Khi con hầu Kim Xuyến nhảy xuống giếng tự tử,
Vương phu nhân cảm thấy lương tâm cắn rứt, nhưng nàng thì không, nàng tươi cười,
an ủi đổ lỗi cho Kim Xuyến và nói: “Dì cũng chẳng nên lo lắng buồn bã làm gì, chỉ
cần cho vài lạng bạc làm ma cho nó là trọn tình chủ tớ rồi”. Nàng có giả dối không?
Có. Nàng đã bày kế “ve sầu lột xác” để đánh lừa bọn con hầu, tránh điều bất lợi cho
mình. Bảo Thoa lúc nào cũng tỉnh táo, cũng lắm mẹo! Nhưng nàng có đáng thương
không? Nàng ít nhiều cũng yêu Giả Bảo Ngọc mà tự kiềm chế, và cuối cùng, với tất cả
sức lực và nghị lực, với tất cả sự chân tình, nàng muốn có hạnh phúc trong cuộc sống
phong kiến với Bảo Ngọc, nhưng rốt cuộc nàng cũng trở thành một nhân vật bi kịch.
Bi kịch của nàng là bi kịch của một người trung thành với đạo đức phong kiến. Gần
với tính cách của Tiết Bảo Thoa là Vương Hy Phượng. Đó cũng là một nhân vật nữ hết
sức đặc sắc nữa. Những nhân vật như thế làm chúng ta nhớ nhiều đến Hoạn Thư của
Nguyễn Du. Đó là sự miêu tả trung thành với bản chất củaa hiện thực, bản chất của
những mối quan hệ phong kiến, đồng thời nó là một sự cá tính hóa hết sức sâu sắc.
Ngoài ra con biết bao nhiêu nhân vật đáng lưu ý nữa trong cái thế giới bao la của
Hồng Lâu Mộng. Dường như đó là cả một nhân loại: trong đó có hàng trăm số phận,
và mỗi số phận đưa đến cho chúng ta một mảnh đời, một suy nghĩ về nhân thế. Nhà
lý luận tiểu thuyết nổi tiếng Bakhtin có nói rằng nhân vật tiểu thuyết phải có phần “dư
thừa nhân tính”. Có nghĩa là nhân vật, ngoài vai trò xã hội (đẳng cấp, nghề nghiệp)
phải có cái phần dư thừa nhân tính, cái phần nhu cầu nhân tính, cái phần cá tính tự do
mà tấm áo xã hội không chứa đựng hết. Nhân vật của Hồng Lâu Mộng vừa là giai cấp
xã hội vừa là những nhân vật mang tính người, tính toàn nhân loại, ở trong họ có cái
phần “người” và những nhân vật như vậy bao giờ cũng là một phát hiện, có sức hấp
dẫn rất mạnh. * Hồng Lâu Mộng là cả một thế giới. Thông qua cuộc sống từ thịnh đến
suy của một gia đình quý tộc, tác giả đã làm hiển hiện sự băng hoại của xã hội phong
kiến, của nhân tính phong kiến, đã cho ta thấy một xã hội như thế là không phương
cứu chữa! Không phải chỉ vì bọn người ấy sống trên áp bức và bóc lột địa tô, mà cái
chính là cuộc sống trống rỗng của bọn họ; ngày và đêm trong cái phủ họ Giả ấy chỉ
toàn là những chuyện giành giật, lừa gạt, dâm dật, tự tử, tội ác... Một vài khuôn mặt
lương thiện - trong đó khá nhiều là thuộc tầng lớp dưới, như già Lưu, như Tập Nhân .
. . không cứu nỗi sự sụp đỗ tất yếu của nó. Hồng Lâu Mộng đã đưa đến cho người đọc
những hiểu biết sâu xa về xã hội và về con người với một cách viết chân thực, giản dị
mà bao gồm nhiều bút pháp lớn kim cổ. Nó là một cuốn bách khoa sinh động về xã
hội Trung Quốc thời xưa. Về mặt thi pháp nghệ thuật, thì đó là một bước tiến mới
trong nghệ thuật tiểu thuyết của thế giới. Hồng Lâu Mộng xứng đáng đứng ngang với
các kiệt tác của nhân loại.
25- 10 - 1988
Mai Quốc Liên.
-----------------------------------------------------(1). Theo thống kê có đến 900 loại.
(2). Cao Ngạc (? - ?) tự Lan Thự, tác giả 40 hồi sau Hồng Lâu Mộng và Lan Thu thi
sao, Lan Thự văn tồn, Nghiễn hương từ... tự Vân Sĩ, biệt hiệu Hồng Lâu ngoại sĩ
(Hồng Lâu Mộng vốn tên Thạch đầu ký. Có lẽ Cao Ngạc là người đặt tên nó là
Hồng Lâu Mộng). Làm quan dưới triều Kiền Long, Gia Khánh, trải các chức Nội các
thị tộc, Hình khoa cấp sự trung, Nhập tịch Mãn Thanh (Kỳ quán “nhương hoàng” màu vàng pha).
(3). Dùng chữ trong Tây sương ký.
Tài liệu tham khảo chính:
- Lịch Sử Văn học Trung Quốc (Nguyên - Minh - Thanh). Sở nghiên cứu Văn học
thuộc Viện Khoa Học Trung Quốc, Bắc Kinh, 1962. Bản dịch Nhà xuất bản Văn học,
Hà Nội, 1964.
- Bùi Kỷ; Lời giới thiệu, Hồng lâu mộng tập 1. Nhà xuất bản Văn hóa. Hà Nội, 1962.
- Tào Tuyết Cần dữ Hồng lâu mộng. quyển thượng. Thế giới thư cục, Singapore, 1973.
Hồi thứ nhất
Hồi thứ nhất này lả hồi mở đầu của cuốn sách(1).
Người làm sách xin nói: “Trải qua quãng đời mộng ảo, nên có ý giấu những việc thực,
mượn chuyện “Hòn đá thiêng” mà viết ra bộ Thạch đầu ký này; vì vậy tôi đặt nhân vật
của tôi là Chân Sĩ Ẩn...(2). Trong sách chép việc gì? Người nào? Người làm sách lại
xin nói: “Nay tôi đã sống cuộc đời gió bụi, không làm nên trò trống gì. Chợt nghĩ đến
những người con gái ngày trước cùng sống với tôi, so sánh kỹ lưỡng, thấy sự hiểu biết
và việc làm của họ đều hơn tôi. Tôi đường đường là bậc tu mi, lại chịu kém bạn quần
thoa, thực rất đáng thẹn! Bây giờ hối cũng vô ích, biết làm thế nào! Tôi nghĩ trước kia
được ơntrời, nhờ tổ, mặc đẹp, ăn ngon, mà phụ công nuôi dạy của cha mẹ, trái lời răn
bảo của thầy bạn, đến nỗi ngày nay một nghề không thành, nửa đời long đong, nên
muốn đem những chuyện đó chép thành một bộ sách bày tỏ với mọi người. Tôi biết
rằng mang tội rất nhiều. Nhưng trong khuê các còn biết bao người tài giỏi, tôi không
thể nhất thiết mượn cớ ngu dại muốn che giấu lỗi mình, để cho họ bị mai một. Cho
nên, đám cỏ lều tranh, giường tre bếp đất, cùng cảnh gió sớm trăng chiều, sân hoa
thềm liễu, đều thúc giục tôi thực hiện lòng mong ước dúng bút mực viết ra lời. Dù tôi
học ít, hạ bút không viết nên văn, tôi cũng chẳng ngại gì mượn lời nôm na thêu dệt
bày tỏ ra đây câu chuyện để mua vui cho mọi người. Vì vậy tôi lại đặt nhân vật là Giả
Vũ Thôn(3)...”. Đó là đầu đề và ý chính của hồi này. Mở đầu cuốn truyện, thấy câu
phong trần mơ người đẹp, chắc ai cũng biết người viết sách vốn chỉ ghi chép những
chuyện bạn bè, tình tứ trong khuê các, chứ không có ý chửi đời. Tuy có một vài chỗ
nói đến nhân tình thế thái, nhưng đó là bất đắc dĩ, mong độc giả nhớ cho.
Lẵng dẵng trên đời khéo khổ công,
Tiệc tùng rốt cuộc chỉ là không.
Muôn trò mừng tủi đều hư ảo,
Một giấc xưa nay rõ viển vông.
Vạt thắm nào riêng người đẫm lệ,
Tình ngây còn vướng hận ôm lòng.
Xem ra chữ chữ toàn bằng huyết,
Cay đắng mười năm khéo lạ lùng.
Độc giả! Các bạn bảo sách này do đâu mà ra? Nói nguồn gốc nó thì dáng như hoang
đường; nhưng xem kỹ rất thú vị. Tôi xin kể rõ lai lịch để độc giả khỏi lầm:
Khi xưa Nữ Oa luyện đá vá trời(4) ở đỉnh Vô Kê trên núi Đại Hoang, luyện được ba
vạn sáu nghìn năm trăm linh một viên, mỗi viên cao mười hai trượng, vuông hai mươi
bốn trượng. Nhưng bà chỉ dùng ba vạn sáu nghìn năm trăm viên, còn thừa một viên
bỏ lại ở chân núi Thanh Ngạnh. Ngờ đâu viên đá này từ khi được luyện, đã có linh
tính. Nhân thấy những viên đá khác được đem vá trời, còn mình vô tài, bị loại, nó rất
tủi hận, ngày đêm kêu khóc buồn rầu.
Một hôm, nó đương than phiền chợt thấy một nhà sư, một đạo sĩ, cốt cách phong độ
khác thường, cười cười nói nói, từ đàng xa đi đến bên núi Thanh Ngạnh, rồi ngồi bên
hòn đá nói chuyên. Lúc đầu hai người còn nói những chuyện núi mây, bể mù, thần
tiên, huyền ảo, sau nói đến vinh hoa phú quý dưới cõi hồng trần. Hòn đá nghe thấy,
bất giác động lòng phàm tục, cũng muốn xuống đó hưởng mùi vinh hoa phú quý,
nhưng thấy mình thô kệch càng thêm tủi phận. Sau bất đắc dĩ nó mượn tiếng người,
cất giọng hỏi:
- Thưa hai sư phụ! Đệ tử là vật ngu xuẩn xin thất lễ! Vừa qua nghe hai vị sư phụ nói
chuyện về cảnh phồn hoa dưới trần gian, trong lòng đệ tử rất thầm mến, đệ tử tuy ngu
xuẩn, nhưng cũng có chút linh tính. Vả lại thấy hai vị sư phụ có vẻ tiên phong đạo
cốt, chắc chắn không phải hạng người tầm thường, nhất định có tài vá trời, cứu thế, có
đực xót vật, thương người! Nếu được hai vị sư phụ mở lòng từ bi, mang đệ tử xuống
cõi trần cho đệ tử hưởng ít năm giàu sang êm ấm, thì đệ tử xin đời đời kiếp kiếp ghi
nhớ ơn sâu.
Nghe xong, hai vị sư, đạo cả cười:
- Khéo thật! Khéo thật! Trong cõi hồng trần đành rằng có nhiều thú vị, nhưng không
phải là nơi nương náu lâu dài. Huống chi “Ngọc lành có vết, việc đời đa đoan” tám
chữ này thường đi liền với nhau. Rồi trong chớp mắt, vui hết đến buồn, người thay
cảnh đổi, rút cuộc chỉ là giấc mộng, muôn cõi đều trở thành không! Như thế chẳng
thà đừng xuống là hơn.
Nhưng lửa trần rực cháy trong lòng, thì dù có nới thế nào cũng khó mà lọt vào tai hòn
đá được. Nó cứ kêu nài mãi. Hai vị sư biết không thể ngăn cản nổi, liền thở dài mà
rằng:
- Đây cũng là cái số kiếp tinh lắm muốn động, có là từ không mà ra đó thôi! Đã vậy,
ta sẽ mang ngươi đi, cho ngươi hưởng thụ, nhưng khi bất như ý thì ngươi đừng hối.
Hòn đá nói:
- Tất nhiên! Tất nhiên!
Nhà sư nói:
- Ngươi bảo ngươi có linh tính nhưng sao lại dại dột ngu ngốc thế? Thật là ngươi
chẳng có quý báu, chẳng kỳ lạ ở chỗ nào cả, chỉ đáng dẫm chân lên thôi. Nhưng thôi,
ta sẽ giở hết phép phật, giúp ngươi một tay. Khi nào mãn kiếp, ngươi trở lại bản chất
của mình, thế là kết liễu số phận. Ngươi thấy thế nào?
Hòn đá nghe xong, cảm ơn không ngớt. Nhà sư liền niệm chú viết bùa, dở hết phép
thuật, làm cho hòn đá kếch sù ấy phút chốc hóa ra viên ngọc báu trong sáng long
lanh, thu hình lại nhỏ bằng viên ngọc đeo dưới dây quạt, có thể cầm hoặc đeo vào
người được. Nhà sư nâng lên trên tay, cười nói:
- Coi hình dáng ngươi thì cũng là vật báu đây, chỉ hiềm một nỗi không có giá trị thực;
bây giờ ta khắc mấy chữ, để mọi người trông thấy, biết ngay ngươi là vật lạ. Ta sẽ
mang ngươi đến một nơi thịnh vượng, một họ dòng dõi, một chốn phồn hoa, giàu
sang êm ấm, cho ngươi được an thân lạc nghiệp.
Hòn đá mừng rỡ hỏi:
- Không biết sư phụ viết vào những chữ gì? Và mang đi đâu? Dám xin sư phụ nói rõ
để đệ tử khỏi áy náy.
Nhà sư cười nói:
- Ngươi chớ hỏi vội, sau này sẽ biết.
Nói đoạn, nhà sư để hòn đá vào trong tay áo, cùng đạo sĩ phơi phới ra đi, không biết
về hướng nào.
Trải qua không biết mấy đời mấy kiếp, có vị Không Không đạo nhân đi cầu tiên học
đạo, qua đỉnh Vô Kê núi Đại Hoang, đến chân núi Thanh Ngạnh, chợt trông thấy một
hòn đá lớn, trên mặt có khắc chữ kể rõ lai lịch. Không Không đạo nhân xem từ đầu
đến cuối, biết rằng nó là một hòn đá không đủ tài vá trời, muốn biến làm người, đã
được hai vị Mang Mang đạo sĩ Diều Diều chân nhân đưa nó xuống trần nếm đủ mùi
đời lạnh nhạt, tan hợp bi hoan. Mặt sau lại có một bài kệ:
Tài đâu toan những vá trời,
Uổng công đày xuống cõi đời bấy lâu.
Từ kiếp trước đến kiếp sau.
Biết nhờ ai chép mấy câu truyền kỳ?
Sau đó, ghi rõ hòn đá này xuống đâu, đầu thai vào đâu, trải qua đoạn đường thế nào,
cả đến những việc vụn vặt trong gia đình, tình từ, thơ tứ trong khuê các, đều chép đủ
cả, xem ra cũng có thú vị đỡ buồn, nhưng không biết từ thời đại nào, ở địa phương
nào và nước nào?
Không Không đạo nhân liền hỏi:
- Này Thạch huynh, cứ như lời anh nói thì câu chuyện này của anh rất thú vị, nên mới
viết rõ vào đây, muốn để lưu truyền việc lạ ấy cho đời. Nhưng ta xem, một là không
biết vào thời đại nào, hai là đây không phải việc thiện chính của bậc đại hiền đại trung
để sửa sang triều đình, chỉnh đốn phong tục, chẳng qua toàn là chuyện một vài người
con gái kỳ quặc, hoặc là người đa tình, hoặc là người si tình, hoặc là người tài năng
tầm thường, chứ không có cái tài cái đức của ả Thái, nàng Ban. Giả sử ta có sao lại, sợ
người đời không xem thôi.
Hòn đá cười mà rằng:
- Thưa sư phụ, sao người nghĩ lẩn thẩn thế Nếu bảo không có thời đại tra cứu, thì sư
phụ cứ việc mượn niên hiệu đời Hán, đời Đường mà viết vào, có khó gì đâu. Nhưng
tôi thiết tưởng những chuyện trong dã sử xưa nay đều theo một lối như nhau; sao bằng
chuyện của tôi không theo khuôn sáo cũ, chỉ ghi chép những sự việc và tình cảm tôi
đã trải qua, mới là mới mẻ ít có! Việc gì phải đòi hỏi cho có triều đại mới được kia
chứ! Vả chăng những người tục ở nơi kẻ chợ rất ít đọc sách nói về đạo lý sửa sang
triều đình, chỉnh đốn phong tục, phần đông chỉ thích xem những chuyện vụn vặt, lại
có thu vị. Gẫm trong dã sử xưa nay, biết bao chuyện dân chê vua quan, hoặc là nói
xấu vợ con người ta, đầy rẫy những gian dâm hung ác, kể sao cho xiết; lại còn những
ngòi bút chỉ viết về chuyện gió trăng dâm dục xấu xa, di hại trong văn mặc, làm hư
hỏng cả con em người ta. Đến những sách nói về giai nhân tài tử, thì nghìn bộ đều
tìl~o một khuôn sáo, đầy rẫy nhưng Phan An, Tử Kiến, Tây Tử, Vân Quân, đã thế rút
cục vẫn không khỏi sa vào phù phiếm. Người làm sách chẳng qua muốn viết vài bài
thơ tình của mình, nên đã cố ý đặt ra một đôi trai gái, rồi xen một thằng tiểu nhân vào
quấy rối, ví như vai hề trong tấn tuồng. Lại có những bọn tòi đòi, mở miệng là chi hồ
giả dã, hết đạo lý đến văn chương, cho nên nếu xem từ đầu đến cuối thì toàn là những
việc mâu thuẫn nhau chẳng có gì là hợp tình hợp lý hết. Sao bằng mấy người con gái
này mà nữa quảng đời tôi đã trông thấy, nghe thấy, tuy không dám ví với những người
trong các sách thuở xưa, nhưng xem đầu đuôi câu chuyện, cũng có thể đỡ buồn. Lại
có mấy bài thơ nhảm nhí, cũng có thể làm cho người đọc cười bật cơm ra và nhân vui
uống thêm mấy chén rượu. Còn như những cảnh hợp tan vui buồn, thịnh suy và
những cảnh ngộ thay đổi, từ đầu đến cuối đều theo sát sự thực không thêm bớt tô vẽ
chút nào, không vì chiều lòng người đọc mà xuyên tạc sự thực. Hiện giờ người nghèo
thì ngày lo cơm áo; kẻ giàu lại nảy lòng tham khôn cùng, rỗi mụt chút là họ nghĩ ngay
đến dâm dục, sắc đẹp, giàu sang, sầu não, còn hơi nào đọc sách nữa. Vì vậy cuốn
truyện của tôi cũng không muốn được đời khen ngợi và mọi người thích đọc. Chỉ
mong khi tỉnh rượn, lúc tàn canh, hoặc khi họ muốn trốn đời, tìm đường tiêu khiển,
họ đem truyện tôi ra xem, có lẽ tôi sẽ giúp họ đừng đeo đuổi những việc hão huyền
cho tốn tuổi thọ, như thế tức là tránh được miệng thế khen chê, khỏi phải chạy vạy
đây đó. Hơn nữa nó cũng ...
 





