Học Bác mỗi ngày. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đào tạo
Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
Danh nhân Bến Tre

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Hoàng Giang
Ngày gửi: 15h:42' 22-12-2023
Dung lượng: 864.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Trần Hoàng Giang
Ngày gửi: 15h:42' 22-12-2023
Dung lượng: 864.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Đốc binh Phan Ngọc Tòng
Phan Ngọc Tòng hay Phan Tòng (1818 - 1868), là lãnh
tụ cuộc khởi nghĩa kháng Pháp năm 1868 tại huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre.
Phan Ngọc Tòng, chưa rõ thân thế, chỉ biết quê ông ở làng
An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri (nay là xã An
Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).
Phan Ngọc Tòng
(1818 - 1868)
Ngay sau khi quân Pháp đánh chiếm Bến Tre năm Đinh Mão (1867), phong
trào kháng Pháp liền nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Khi ấy, Phan Ngọc Tòng, chỉ là một
thầy giáo làng (hương giáo) và đang mang tang mẹ, nhưng ông vẫn đứng ra tập hợp
dân chúng đứng lên hưởng ứng và được Phan Tôn, Phan Liêm cử làm Đốc binh.
Đầu năm Mậu Thìn (1868), quân Pháp mở cuộc hành quân về Ba Tri. Ngày,
đội quân ấy đi ruồng bố, đến đêm, thì co cụm lại nơi ngôi miếu cũ trên một gò đất
hoang vu, có tên là Giồng Gạch (nay thuộc xã An Hiệp).
Hiểu được việc đi lại của quân Pháp, đêm ngày 6 rạng ngày 7 tháng Giêng (30
tháng 1 năm 1868), Phan Ngọc Tòng, khi ấy mới nhận chức có bảy tám ngày, đã tổ
chức nghĩa quân tấn công vào cứ điểm trên của quân Pháp, với khẩu lệnh xung phong
là tiếng hô "hè"để uy hiếp tinh thần đối phương.
Trong trận kịch chiến này, ông Tòng đã tử trận cùng với nhiều nghĩa quân.
Thân xác Phan Ngọc Tòng, sau đó được dân làng mang về chôn cất tại quê
nhà, tức làng An Bình Đông.
Do thời gian và chiến tranh tàn phá, ngôi mộ Phan Ngọc Tòng đã bị hư hại
nặng. Trước tình trạng ấy, ngày 12 tháng 4 năm 2007, chính quyền cùng người dân
địa phương đã tổ chức cải táng hài cốt ông về nằm sau đình làng An Bình Đông (ngôi
miếu cũ, nơi chiến trường xưa) ở Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, huyện Ba Tri,
tức ngay nơi ông mất. Năm 1999, chính quyền đã cho xây thêm nhà bia ở nơi ấy để
ghi công ông và những nghĩa quân đã hy sinh.
Hàng năm, vào ngày ông chỉ huy cuộc tấn công quân Pháp đã ghi trên, dân
làng An Bình Đông đều có tổ chức ngày giỗ hội để tưởng nhớ ông và những cộng sự
đã ngã xuống. Và Giồng Gạch, nơi đẫm máu của nhiều chiến sĩ, được người dân lúc
bấy giờ gọi bằng cái tên mới là Gò Trụi, với hàm nghĩa “ không còn ai (nghĩa quân)
sống sót”, vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay.
Nguồn: Giáo dục Bến Tre
-1-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Đồng Văn Cống
“Người anh cả của Lực lượng vũ trang Bến Tre”
Đồng Văn Cống (1918 – 2005) là một tướng lĩnh,
quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt
Nam, từng làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre, Sư đoàn
trưởng sư đoàn 330, tư lệnh các quân khu: Quân khu
Hữu ngạn, 7, 8, 9 và Phó tổng Thanh tra Quân đội
nhân dân Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội Việt
Nam khóa VI.
Đồng Văn Cống
(1918 – 2005)
Trung tướng Đồng Văn Cống được người dân Bến Tre
ca ngợi là "vị tướng bưng biền", được tôn xưng là
người anh cả của Lực lượng vũ trang Bến Tre qua hai
cuộc kháng chiến.
Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Đến năm 1946 ông
gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong Chiến tranh Đông Dương, ông chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ, đã
từng giữ các chức vụ: Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng và Tỉnh
đội trưởng tỉnh Bến Tre (Tỉnh đội trưởng tương đương với Sư đoàn trưởng).
Năm 1954, Đồng Văn Cống tập kết ra miền Bắc (Việt Nam) và được bổ nhiệm:
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330; Tư lệnh trưởng Quân khu Hữu Ngạn (1962). Năm 1963
về chiến trường miền Nam Việt Nam chiến đấu, ông được bổ nhiệm tư lệnh Quân
khu 9 (1964), rồi Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam từ năm
1965-1972. Tháng 10 năm 1972 đến 1975 ông được phân công là tư lệnh Quân khu 8,
thụ phong Thiếu tướng năm 1974.
Từ tháng 5 năm 1976 đến tháng 9 năm 1982 Đồng Văn Cống là phó tư lệnh
Quân khu 7, quyền tư lệnh Quân khu 7, thụ phong Trung tướng năm 1980. Tháng 10
năm 1982 ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt
Nam và nghỉ hưu trong cùng năm.
Ông là đại biểu Quốc hội khóa VI. Ông qua đời ngày 6 tháng 8 năm 2005 vì
tuổi cao, được an táng ở quê nhà tại Bến Tre
Đồng Văn Cống đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt
Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng
nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng
nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng
nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng;
Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
-2-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Năm 2011, Đồng Văn Cống được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân.
Ông được dựng một đền thờ ở quê nhà Bến Tre. Tên ông được đặt cho một con
đường ở Quận 2 của Thành phố Hồ Chí Minh.
Ơ
Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống (Giồng Trôm, Bến Tre)
Con trai đầu lòng của ông là một sĩ quan phi công của Không quân nhân dân
Việt Nam, từng bắn rơi máy bay địch, hi sinh trong khi không chiến với phi công Mỹ.
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
-3-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Huỳnh Tấn Phát – Kiến trúc sư, người chiến sĩ cách mạng
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (1913-1989) là Chủ tịch
nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976), Phó
Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ông là tác giả của cờ
nửa đỏ nửa xanh (Quốc kỳ Cộng hòa Miền Nam Việt
Nam).
Huỳnh Tấn Phát
(1913 - 1989)
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát sinh ngày 15 tháng
2 năm 1913, tại xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Mỹ
Tho (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Khi đến tuổi học trung học,
ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký.
Năm 1933, ông thi vào học khóa 8 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và
tốt nghiệp thủ khoa năm 1938. Cuối năm 1938 khi vừa có tấm bằng kiến trúc sư (đỗ
thủ khoa), ông trở về Sài Gòn và làm việc tại văn phòng kiến trúc sư Chauchon,
người Pháp tại số 68 - 70 đường Mayer.
Năm 1940, ông là kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên mở văn phòng kiến trúc tư ở
Sài Gòn. Năm 1941, ông đoạt giải nhất cuộc thi thiết kế khu Trung tâm hội chợ triển
lãm Đông Dương do Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux tổ chức.
Các biệt thự do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thiết kế trước năm 1943 ở Sài
Gòn đến nay vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp cổ kính rất phù hợp với khí hậu nóng, ẩm
phương nam. Một số biệt thự vẫn còn đến ngày nay như Biệt thự số 7 Lê Duẩn; biệt
thự số 151 Nguyễn Đình Chiểu; biệt thự số 6 Nguyễn Huy Lượng...
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông là chủ nhiệm báo Thanh Niên, hoạt
động trong phong trào Thanh niên Tiền Phong, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở
Nam Bộ. Ông được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 5 tháng
3 năm 1945. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông cùng một số trí thức Nam Bộ tham
gia cướp chính quyền ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông đã thiết kế và chỉ đạo thực hiện
công trình Kỳ đài cao 15m ghi tên 11 vị trong Lâm ủy Nam Bộ tại ngã tư Nguyễn
Huệ - Lê Lợi chỉ trong đêm 24 tháng 8 năm 1945.
Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, được bổ sung làm ủy viên dự khuyết Ban Thường trực Quốc hội. Chiến
tranh Đông Dương bùng nổ, ông công tác bí mật ở Sài Gòn, bị Pháp bắt giam ở
Khám lớn Sài Gòn. Năm 1949, ông ra chiến khu, giữ chức Ủy viên Ủy ban Kháng
chiến Hành chính Nam Bộ, Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, trực tiếp phụ trách Đài
phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do.
Sau Hiệp định Genève chia cắt 2 miền đất nước năm 1954, ông ở lại Sài Gòn,
làm việc tại văn phòng của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Năm 1954, đồ án thiết kế
-4-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
của ông tham dự cuộc thi thiết kế nhà văn hóa dự kiến xây dựng ở Khám lớn Sài Gòn
đã đoạt giải II (không có giải I) và Thư viện Sài Gòn (đồng tác giả với Nguyễn Hữu
Thiện) là một trong những công trình đẹp nhất Sài Gòn được giới nghề và công
chúng đánh giá cao.
Ông cũng tham gia các phong trào đòi hòa bình, tự do, dân chủ, thống nhất đất
nước, đòi thi hành Hiệp định Genève. Năm 1960, ông bí mật thoát ly khỏi Sài Gòn,
tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, giữ chức vụ Phó Chủ
tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận
Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định.
Tháng 6 năm 1969, ông được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm
Chủ tịch của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến ngày
nước Việt Nam tái thống nhất hòa bình 1976.
Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử
làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước,
Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Ông làm Trưởng ban chỉ đạo Quy hoạch
Thủ đô và Chủ nhiệm đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội, chỉ đạo và góp ý kiến
các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, TP. Hồ Chí
Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh...
Ông còn đảm trách các chức vụ: Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tên ông được đặt cho các phố ở Hà Nội (nối đường Cổ Linh với Sài Đồng),
thành phố Hồ Chí Minh (nối Trần Xuân Soạn với phà Bình Khánh), Đà Nẵng (đoạn
cắt đường 30 tháng 4 với Hồ Nguyên Trừng), Huế (nối đường Nguyễn Hữu Thọ với
Lê Minh)...
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng
-5-
ơ
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Ngọc Thăng (1798 - 1866) là một võ tướng nhà
Nguyễn, thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu
tiên của Bến Tre và Nam Kỳ. Do ông từng giữ chức Lãnh
binh, nên dân gian vẫn thường gọi ông là Lãnh binh
Thăng.
Nguyễn Ngọc Thăng
(1798 - 1866)
Lãnh binh Thăng sinh tại năm 1798 tại ấp Giồng Keo, làng
Mỹ Thạnh, huyện Tân An (nay là xã Mỹ Thạnh,
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).[1] Ông xuất thân trong
một gia đình nông dân, từ miền Trung vào lập nghiệp đã lâu
nên khá giả.
Cha ông tên Nguyễn Công, mẹ là Trần Thị Kiếm. Cha mẹ ông sinh được ba
người con, ông là con trai trưởng. Từ thuở thiếu niên, Nguyễn Ngọc Thăng phải giúp
cha mẹ nhiều công việc đồng áng và tỏ ra ham học, thông minh, có thiên hướng về võ
nghệ. Do vậy, ngoài học chữ Hán của các thầy đồ trong làng, ông còn cùng với bạn
bè trang lứa tìm đến các lò võ xung quanh vùng để học võ nghệ.[1]
Lớn lên, ông đăng lính triều đình. Vốn thông minh và giỏi võ nghệ, nên trong
thời gian ở quân đội, ông luôn được cấp trên quan tâm. Đến năm 1848, dưới thời Tự
Đức, ông được thăng chức lãnh binh. Đến khi đủ tài lực, ông đứng ra chiêu mộ dân
để khai khẩn đất đai, lập đồn điền vùng Bảo Hựu (Bến Tre).
Mờ sáng ngày 1 tháng Chín (âm lịch) năm Mậu Ngọ (1858), năm Tự Đức thứ
11, quân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng. Sau 5 tháng giao tranh, quân Pháp vẫn bị cầm
chân ở nơi đây. Theo lệnh của Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp là Phó đô
đốc Rigault de Genouilly, hai phần ba số lính Pháp kéo vào tấn công thành Gia Định.
Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp đổ bộ, nã đại pháo và dùng chất nổ
đánh thủng cửa Đông thành. Quân Pháp dùng thang cao leo vào, pháo của quân Việt
từ trên thành bắn xuống, nhưng không mấy hiệu quả... Nhận được tin, Lãnh binh
Thăng đem binh từ Thủ Thiêm đến cứu viện, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành Gia
Định đã bị đối phương chiếm lấy, sau khi đôi bên giáp mặt đánh nhau rất ác liệt.
Thành mất, Hộ đốc trấn giữ thành là Võ Duy Ninh và án sát Lê Từ tuẫn tiết.
Nghe tin Gia Định thất thủ, triều đình Huế liền phái Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất
Hiệp mang 1.500 quân vào đóng ở Biên Hòa, còn Lãnh binh Thăng được lệnh vẫn
đóng giữ vùng Chùa Cây Mai. Tại đây, ông cho củng cố đồn lũy, nhưng do vũ khí
của Pháp quá mạnh nên chỉ sau một thời gian cầm cự, ông cũng phải bỏ đồn.
Sau khi chiếm được thành Gia Định và hạ xong Đại đồn Chí Hòa, Pháp xua
quân tiến đánh Định Tường, vì đây là cửa ngõ của vựa lúa gạo vùng đồng bằng sông
Cửu Long.
Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất nhượng ba
tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho Pháp. Vua Tự Đức
-6-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
xuống chiếu dụ kêu gọi bãi binh. Không đồng tình, Trương Định vẫn ở lại Gò
Công để tiếp tục kháng Pháp.
Khi ấy, Lãnh binh Thăng cũng đã rút quân về Gò Công. Kể từ đây, ông tiếp tục
chiến đấu chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Trương Định.
Ngày 19 tháng 8 năm 1864, một thuộc hạ cũ của Trương Định sau đầu hàng
Pháp là Huỳnh Công Tấn đã dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ đánh úp bản
doanh. Trương Định bị trọng thương và ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò
Công), để bảo toàn khí tiết vào rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864.
Dù bị tổn thất lớn, nhưng Lãnh binh Thăng vẫn cùng với các nghĩa quân quyết
tâm chiến đấu, không chịu đầu hàng.
Vào ngày 27 tháng 6 năm 1866 (tức ngày Rằm tháng 5 năm Bính Dần), trong
lúc đang chỉ huy nghĩa quân đánh nhau với đối phương ở hữu ngạn sông Soài Rạp,
ông bị trúng đạn, tử thương. Lợi dụng đêm tối, các thuộc hạ trung thành đã dùng ghe
đưa thi hài ông về Mỹ Lồng (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm) để an táng
ông.
Nghe tin ông mất, vua Tự Đức có phong sắc, áo, mão và một thanh gươm. Do
chiến tranh, những di vật này đặt tại ngôi miếu thờ ông ở ấp Giồng Keo bị hư hỏng và
thất lạc.
Mộ Lãnh binh Thăng hiện ở tại ấp Giồng Keo, làng Lương Mỹ, tổng Bảo
Thành (nay là ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
Lê Quang Quan - Người anh hùng đất Ba Châu
-7-
ơ
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Lê Quang Quan
(Tán Kế)
Lê Quang Quan, tự Kế (nên cũng thường gọi là Tán Kế)
sinh tại làng Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông
nội ông quê quán ở Bình Định vào đất Ba Tri lập nghiệp.
Kế thừa tinh thần thượng võ của ông cha từ nơi quê cũ,
ông luyện tập võ nghệ khá tinh thông và khi lớn lên ông
đăng lính triều đình.
Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh
miền Đông cho Pháp, ông cùng với một số binh sĩ khác bất
mãn, bỏ ngũ trốn về quê.
Trở về Mỹ Chánh, ông đi vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn
vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà.
Tháng 6 năm 1867, giặc Pháp chiếm đánh 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến
Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa
chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân
dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế hiểm trở (lúc
bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp) đã gây cho đối phương
nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm
chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước
tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn
một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những
mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã
lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt
được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu
Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11-1-1869. Trong dân gian ở vùng
này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt
vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.
Cảm phục cái chết của người anh hùng đất Ba Châu, nhân dân nhiều nơi trong
tỉnh đã lập miếu thờ ông. Mộ ông xây dựng tại làng Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri.
Hiện nay, đền thờ ông được xây dựng khá khang trang tại xã Mỹ Chánh.
Đền thờ Tán Kế tại Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Nguồn: Danh nhân bến Tre
-8-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Đình Chiểu - Nhà thơ yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu
(1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu ( 1822–1888), tục gọi là Đồ
Chiểu (khi dạy học), tự Mạch Trạch, hiệu Trọng
Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất
của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm
Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại quê mẹ là làng Tân Thới,
phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc
phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày
nay).
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy,
người làng Bồ Điền, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lớn lên, ông cưới vợ ở đây và đã có
hai con (một trai và một gái). Mùa hạ, tháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê
Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến
đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn
hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà
Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh ra bảy con (4 trai, 3 gái) và
Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.
Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được má nuôi dạy. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo
học với một ông thầy đồ ở làng.
Năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt mất. Năm sau (1833), con nuôi Tả quân
là Lê Văn Khôi, vì bất mãn đã làm cuộc nổi dậy chiếm thành Phiên An ở Gia Định,
rồi chiếm cả Nam Kỳ. Trong cơn binh biến, bố của Nguyễn Đình Chiểu bỏ trốn
ra Huế, nên bị cách hết chức tước. Song vì thương con, cha ông lén trở vào Nam,
đem ông ra gửi cho một người bạn đang làm Thái phó ở Huế để tiếp tục việc học.
Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ 11 tuổi (1833) đến 18 tuổi (1840), thì trở về Gia
Định.
Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Khi ấy,
có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.
Năm 1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849). Lần này, ông
cùng đi với em trai là Nguyễn Đình Tựu (10 tuổi).
Ngày rằm tháng 11 năm Mậu Thân (31 tháng 12 năm 1848), má Nguyễn Đình
Chiểu mất ở Gia Định. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở về Nam chịu
tang mẹ.
Trên đường trở về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất vả và thời tiết thất thường,
nên đến Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng. Trong thời gian nghỉ chữa
-9-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
bệnh ở nhà một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không hết, nhưng ông cũng
đã học được nghề thuốc. Lâm cảnh mù mắt, hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút... Nguyễn
Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851, thì mở trường dạy học và làm
thuốc ở Bình Vi (Gia Định). Truyện thơ Lục Vân Tiên(SGK ngữ văn 9) của ông có lẽ
được bắt đầu sáng tác vào thời gian này.
Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886, người làng
Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ.
Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông, vì cảm phục và mến
thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Truyện thơ Dương Từ-Hà Mậu của ông có lẽ
được bắt đầu sáng tác vào thời gian này.
Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng. Vấp phải sự kháng cự quyết liệt
của quân và dân Việt, họ vào Nam đánh phá thành Gia Định vào đầu năm 1859. Sau
khi tòa thành này thất thủ (17 tháng 2 năm 1859), Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình
về sống ở Thanh Ba (Cần Giuộc), tức quê vợ ông. Vô cùng đau đớn trước thảm cảnh
mà quân Pháp đã gây nên cho đồng bào ông, và rất thất vọng về sự hèn yếu, bất lực
của triều đình, ông làm bài thơ "Chạy giặc".
Đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu (16 tháng 12 năm 1861), những nghĩa sĩ mà
trước đây vốn là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã quả cảm tập kích đồn
Pháp ở Cần Giuộc, tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện
người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng mười lăm nghĩa sĩ bỏ mình. Những
tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Theo yêu cầu của Tuần
phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc", để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận đánh này.
Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất về tay Pháp,
theo phong trào "tỵ địa", Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Thanh Ba (Cần
Giuộc) về Ba Tri (Bến Tre), vì không thể sống chung với họ. Chia tay với bạn bè thân
quen, ông làm bài thơ "Từ biệt cố nhân".
Về Ba Tri, ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình
ra phục vụ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kỳ suốt trong hơn 20 năm, dù
đã mù lòa.
Năm 1863, em trai út ông là Nguyễn Đình Huân theo Đốc binh Là chống Pháp,
hy sinh ở Cần Giuộc.
Tháng 8 năm 1864, thủ lĩnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gò
Công là Trương Định bị thương rồi tuẫn tiết ở Ao Dinh; xúc động, Nguyễn Đình
Chiểu làm bài văn tế và mười hai bài thơ liên hoàn để điếu ông.
Năm 1867, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản và Đốc học Vĩnh Long Nguyễn
Thông tổ chức đưa di hài nhà giáo Võ Trường Toản từ làng Hòa Hưng (Gia Định) về
táng ở Bảo Thạnh (Ba Tri), Nguyễn Đình Chiểu có đến dự lễ rước.
Ngày 4 tháng 8 năm đó (1867), Phan Thanh Giản tuẫn tiết vì không giữ được thành
Vĩnh Long, Nguyễn Đình Chiểu có làm hai bài thơ điếu ông. Năm 1868, thủ lĩnh
- 10 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
kháng Pháp ở Ba Tri là Phan Tòng (còn có tên là Phan Ngọc Tòng) hy sinh, ông làm
10 bài thơ điếu.
Năm 1877, Nguyễn Đình Chiểu dời đến ở làng An Bình Đông (sau đổi là An
Đức) cách chợ Ba Tri khoảng hai cây số.
Năm 1883, Tỉnh trưởng Bến Tre là Michel Ponchon đã đến nhà để yêu cầu ông
nhuận chính quyển thơ Lục Vân Tiên, đồng thời ngỏ ý trao trả lại ruộng vườn của
ông mà họ đã chiếm đoạt. Ông khẳng khái nói: "Đất vua không ai trả thì đất riêng của
tôi có sá gì", rồi khước từ mọi hứa hẹn giúp đỡ của chính quyền thực dân. Lại hỏi ý
muốn riêng của ông, ông đáp "muốn tế vong hồn nghĩa sĩ Lục tỉnh", và được viên
Tỉnh trưởng chấp thuận. Sau đó, ông tổ chức lễ tế tại chợ Ba Tri, và đọc bài "Văn tế
nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh".
Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi. Buồn rầu vì vợ mất, vì
cảnh nước mất nhà tan đã bấy lâu, vì bệnh tật ngày càng trầm trọng, hai năm sau,
ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888), Nguyễn Đình Chiểu cũng qua
đời tại Ba Tri, thọ 66 tuổi. Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về cõi vĩnh
hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang của những người mến mộ ông.
Ông được an táng cạnh mộ vợ, nay thuộc ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri,
tỉnh Bến Tre.
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
- 11 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Quyền – Người chí sĩ yêu nước
Nguyễn Quyền (1869–1941) là một chí sĩ yêu nước Việt
Nam thời cận đại. Ông là một trong những sáng lập viên
của phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
Nguyễn Quyền
(1869–1941)
Nguyễn Quyền, hiệu là Đông Đường, sinh năm 1869 tại
làng Thượng Trì, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong
một gia đình nhà nho, Nguyễn Quyền đỗ tú tài Hán học và
được bổ nhiệm làm Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, do đó người
ta thường gọi ông là Huấn Quyền.
Năm 1907, ông xin từ chức huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, về Hà Nội cùng với một
số bạn bè như Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Dương Bá Trạc, Đào Nguyên Phổ,
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… lập Trường Đông Kinh nghĩa thục nhằm truyền
bá tinh thần yêu nước, đào tạo học sinh với kỳ vọng dùng con đường văn hóa để đấu
tranh với bọn thực dân, khôi phục lại nền độc lập của dân tộc, trong khi các phong
trào võ trang lần lượt bị thất bại. Nguyễn Quyền được cử làm giám học trường. Cũng
trong thời gian này, ông có sáng tác nhiều bài thơ yêu nước, vận động cổ vũ cho cuộc
Duy tân như Cắt tóc, Chiêu hồn nước…
Chín tháng sau ngày khai giảng trường, chính quyền thực dân đánh hơi thấy
những hoạt động của nhóm Đông kinh nghĩa thục có ảnh hưởng lớn đến tình hình xã
hội bên ngoài và gây nguy hiểm cho chúng, nên tìm mọi cách để ngăn cản. Viên
Thống sứ Bắc Kỳ buộc Nguyễn Quyền phải trở về với chức giáo thọ, nhưng không
được trở lại Lạng Sơn, mà đổi về huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Phú Thọ. Một tháng sau
khi từ chức, thì ông bị mật thám Pháp bắt, đưa về Hà Nội. Chúng giam ông tại nhà
lao Hỏa Lò. Hội đồng đề hình (Commission criminelle) ghép tội ông vào án "trảm
giam hậu", rồi đổi thành án khổ sai chung thân, đày đi Côn Đảo (1909). Cảm động
trước bản án của 5 chí sĩ yêu nước (gồm Nguyễn Quyền, Lê Đại, Võ Hoành, Dương
Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí) một tác giả vô danh đã làm bài thơ đăng trên báo Mai (số 9,
ngày 25-4-1936) nhan đề là Nam thiên phong vân, trong đó có đoạn ca ngợi hành
động yêu nước của Nguyễn Quyền:
"Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một
Cơn nhiệt thành lửa đốt buồng gan
Đùng đùng gió cuốn mây tan
Lạng thành giáo chức từ quan cáo về.
Mở tân giới, xoay nghề tân học
Đón tân trào, dựng cuộc duy tân
Tân thư, tân báo, tân văn
Chân đi miệng nói xa gần thiếu đâu
- 12 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành…"
Đến năm 1910, Nguyễn Quyền được chính quyền thực dân ân xá, nhưng không
được trở về quê nhà, kể cả Hà Nội, nơi ông đã từng hoạt động. Chúng đưa ông về “an
trí” ở tỉnh Bến Tre, cùng lúc đó Dương Bá Trạc bị đưa về Long Xuyên, Võ Hoành về
Sa Đéc, Hoàng Tăng Bí về Huế, Phan Châu Trinh về Mỹ Tho. Thực ra đây là một
cách giam lỏng các nhà trí thức yêu nước, cách ly họ khỏi môi trường cũ. Mỗi tháng,
chính quyền thực dân "chu cấp" cho mỗi người 8 đồng bạc Đông Dương để chi tiêu
sinh sống. Nguyễn Quyền, lúc ban đầu có nhận, nhưng một thời gian sau, nhờ sự giúp
đỡ của đồng chí, đồng bào hảo tâm, ông từ chối không nhận trợ cấp này nữa.
Tuy bị giam lỏng và bị theo dõi, nhưng Nguyễn Quyền vẫn bí mật liên lạc với
những nhà yêu nước trong vùng Lục tỉnh, mở tiệm may tại thị xã Bến Tre để làm nơi
liên lạc, giao thiệp hợp pháp với bên ngoài, vận động quần chúng góp tiền bạc, gởi
sang Nhật giúp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du.
Năm 1916, do sự khai báo của cơ sở, ông bị Sở mật thám Sài Gòn gọi lên truy
hỏi, nhưng vì không đủ chứng cứ buộc tội, chúng đành phải thả ông về lại Bến Tre.
Năm 1924, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhân chuyến vào Nam, có ghé lại Bến Tre
thăm ông và có làm thơ tặng, trong đó có câu "Kim mã tê thanh hồng nhựt ánh, Kê
mi án kiếm quá trùng quan" hàm ý khơi dậy lòng yêu nước của người chiến sĩ năm
xưa.
Vào giai đoạn cuối đời, Nguyễn Quyền do tuổi tác và bệnh tật, bạn bè đồng chí
ngày một thưa dần, hơn nữa ông không đủ sức và điều kiện nắm bắt được nhịp sống
sôi động của cao trào dân chủ diễn ra trên đất nước ta trong những năm của thập kỷ
30, ông nghiêng về cảnh vui thú điền viên, cố giữ lòng trong sạch của một nhà nho
hơn là hành động của người chiến sĩ. Khi thì ông lui về sống ở quê vợ thứ tại Thạnh
Phú, lúc ở Cồn Ngao (Trà Vinh), cuối cùng ông chuyển về sống ở Sa Đéc, dựa vào
nguồn lợi của mấy mẫu vườn cây ăn trái của con và mất tại đây ngày 18-7-1941,
hưởng thọ 72 tuổi. Trước khi mất, ông có đọc cho một đồng chí ở Cao Lãnh ghi lại
lời chúc ngôn bằng chữ Hán, đại ý là muốn giải bày tấm lòng yêu nước, yêu dân của
một trí thức Nho học được thể hiện trong gần 40 năm hoạt động, nhưng “lực bất tòng
tâm", việc lớn không thành…
Tên của ông được đặt cho một con đường tại phường Nguyễn Du, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội, một phố tại phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, một
con đường tại phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh.
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
- 13 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Thị Định – Nữ tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam
[ơ
Ơ
Nguyễn Thị Định
(1920 – 1992)
Nguyễn Thị Định (15 tháng 3 năm 1920 – 26 tháng
8 năm 1992), còn được gọi là Madame Nguyễn Thị
Định, Ba Định (bí danh Bích Vân, Ba Tấn, Ba Nhất và Ba
Hận), là nữ Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam đầu
tiên và nữ chính trị gia Việt Nam. Nguyên Phó Tư
lệnh Quân giải phóng Miền nam Việt Nam, Phó Tư lệnh
Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre, Phó
Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ
nữ Việt Nam. Uỷ viên Trung ương Đảng khoá IV, V,
VI. Đại biểu quốc hội khoá VI, VII, VIII.
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15-3-1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng
Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu
nước và cách mạng. Thuở nhỏ, bà phải sống trong xã hội thực dân và phong kiến, gia
đình đông con nên khó có điều kiện cắp sách đến trường như bao người khác. Bổn
phận là anh, hơn nữa thương em nhiều nên anh Ba (Ba Chẩn) đã dạy bà học cho biết
cái chữ tại nhà. Tuy không học được nhiều nhưng bà rất thông minh, nhạy cảm và
hiểu biết đủ điều, thích đọc nhiều truyện, đặc biệt là truyện Lục Vân Tiên của cụ
Nguyễn Đình Chiểu. Những nhân vật, những hình ảnh, những cuộc đời trong truyện
gợi cho bà có một ước mơ vươn đến cuộc sống cao đẹp, gieo trong lòng bà tình
thương sâu sắc đối với tầng lớp nghèo trong xã hội và căm ghét những cảnh bất công.
Cứ mỗi ngày đem cơm, nước cho anh Ba trong tù, tận mắt chứng kiến cảnh lính Pháp
tra tấn, đánh đập dã man, thân hình bầm tím, máu chảy loang trên nền xi măng thì
lòng bà lại quặn đau như thắt. Lúc này bà mới hiểu các anh bị bắt, bị đánh đập là vì
làm việc cứu nước, cứu dân, chống lại Pháp, chống lại chủ điền. Từ đó bà hiểu nhiều
về nỗi nhục mất nước, người giàu ức hiếp người nghèo và cần phải chống lại chúng.
Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau
(1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng trong thời
gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích – Tỉnh ủy viên tỉnh Bến
Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó.
Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn
nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.
Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay
thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm họat động kiên cường, bất khuất
của bà trong nhà tù. Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ c...
=======================================================================
Đốc binh Phan Ngọc Tòng
Phan Ngọc Tòng hay Phan Tòng (1818 - 1868), là lãnh
tụ cuộc khởi nghĩa kháng Pháp năm 1868 tại huyện Ba
Tri, tỉnh Bến Tre.
Phan Ngọc Tòng, chưa rõ thân thế, chỉ biết quê ông ở làng
An Bình Đông, tổng Bảo An, huyện Ba Tri (nay là xã An
Đức, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).
Phan Ngọc Tòng
(1818 - 1868)
Ngay sau khi quân Pháp đánh chiếm Bến Tre năm Đinh Mão (1867), phong
trào kháng Pháp liền nổi lên khắp nơi trong tỉnh. Khi ấy, Phan Ngọc Tòng, chỉ là một
thầy giáo làng (hương giáo) và đang mang tang mẹ, nhưng ông vẫn đứng ra tập hợp
dân chúng đứng lên hưởng ứng và được Phan Tôn, Phan Liêm cử làm Đốc binh.
Đầu năm Mậu Thìn (1868), quân Pháp mở cuộc hành quân về Ba Tri. Ngày,
đội quân ấy đi ruồng bố, đến đêm, thì co cụm lại nơi ngôi miếu cũ trên một gò đất
hoang vu, có tên là Giồng Gạch (nay thuộc xã An Hiệp).
Hiểu được việc đi lại của quân Pháp, đêm ngày 6 rạng ngày 7 tháng Giêng (30
tháng 1 năm 1868), Phan Ngọc Tòng, khi ấy mới nhận chức có bảy tám ngày, đã tổ
chức nghĩa quân tấn công vào cứ điểm trên của quân Pháp, với khẩu lệnh xung phong
là tiếng hô "hè"để uy hiếp tinh thần đối phương.
Trong trận kịch chiến này, ông Tòng đã tử trận cùng với nhiều nghĩa quân.
Thân xác Phan Ngọc Tòng, sau đó được dân làng mang về chôn cất tại quê
nhà, tức làng An Bình Đông.
Do thời gian và chiến tranh tàn phá, ngôi mộ Phan Ngọc Tòng đã bị hư hại
nặng. Trước tình trạng ấy, ngày 12 tháng 4 năm 2007, chính quyền cùng người dân
địa phương đã tổ chức cải táng hài cốt ông về nằm sau đình làng An Bình Đông (ngôi
miếu cũ, nơi chiến trường xưa) ở Gò Trụi, ấp Giồng Gạch, xã An Hiệp, huyện Ba Tri,
tức ngay nơi ông mất. Năm 1999, chính quyền đã cho xây thêm nhà bia ở nơi ấy để
ghi công ông và những nghĩa quân đã hy sinh.
Hàng năm, vào ngày ông chỉ huy cuộc tấn công quân Pháp đã ghi trên, dân
làng An Bình Đông đều có tổ chức ngày giỗ hội để tưởng nhớ ông và những cộng sự
đã ngã xuống. Và Giồng Gạch, nơi đẫm máu của nhiều chiến sĩ, được người dân lúc
bấy giờ gọi bằng cái tên mới là Gò Trụi, với hàm nghĩa “ không còn ai (nghĩa quân)
sống sót”, vẫn còn tồn tại cho đến hôm nay.
Nguồn: Giáo dục Bến Tre
-1-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Đồng Văn Cống
“Người anh cả của Lực lượng vũ trang Bến Tre”
Đồng Văn Cống (1918 – 2005) là một tướng lĩnh,
quân hàm Trung tướng Quân đội nhân dân Việt
Nam, từng làm Tỉnh đội trưởng Bến Tre, Sư đoàn
trưởng sư đoàn 330, tư lệnh các quân khu: Quân khu
Hữu ngạn, 7, 8, 9 và Phó tổng Thanh tra Quân đội
nhân dân Việt Nam. Ông là đại biểu Quốc hội Việt
Nam khóa VI.
Đồng Văn Cống
(1918 – 2005)
Trung tướng Đồng Văn Cống được người dân Bến Tre
ca ngợi là "vị tướng bưng biền", được tôn xưng là
người anh cả của Lực lượng vũ trang Bến Tre qua hai
cuộc kháng chiến.
Đồng Văn Cống sinh tháng 2 năm 1918 tại xã Tân Hào, huyện Giồng Trôm,
tỉnh Bến Tre. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Đến năm 1946 ông
gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Trong Chiến tranh Đông Dương, ông chiến đấu tại chiến trường Nam Bộ, đã
từng giữ các chức vụ: Đại đội trưởng, Tiểu đoàn trưởng, Trung đoàn trưởng và Tỉnh
đội trưởng tỉnh Bến Tre (Tỉnh đội trưởng tương đương với Sư đoàn trưởng).
Năm 1954, Đồng Văn Cống tập kết ra miền Bắc (Việt Nam) và được bổ nhiệm:
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 330; Tư lệnh trưởng Quân khu Hữu Ngạn (1962). Năm 1963
về chiến trường miền Nam Việt Nam chiến đấu, ông được bổ nhiệm tư lệnh Quân
khu 9 (1964), rồi Phó tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam từ năm
1965-1972. Tháng 10 năm 1972 đến 1975 ông được phân công là tư lệnh Quân khu 8,
thụ phong Thiếu tướng năm 1974.
Từ tháng 5 năm 1976 đến tháng 9 năm 1982 Đồng Văn Cống là phó tư lệnh
Quân khu 7, quyền tư lệnh Quân khu 7, thụ phong Trung tướng năm 1980. Tháng 10
năm 1982 ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng thanh tra Quân đội nhân dân Việt
Nam và nghỉ hưu trong cùng năm.
Ông là đại biểu Quốc hội khóa VI. Ông qua đời ngày 6 tháng 8 năm 2005 vì
tuổi cao, được an táng ở quê nhà tại Bến Tre
Đồng Văn Cống đã được Đảng Cộng sản Việt Nam và nhà nước Việt
Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng
nhất; Huân chương Kháng chiến hạng nhất; Huân chương Chiến thắng hạng
nhất; Huân chương Quân công hạng 1, 2, 3; hai Huân chương Chiến công hạng
nhất; Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng nhất; Huy chương Quân kỳ quyết thắng;
Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
-2-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Năm 2011, Đồng Văn Cống được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ
trang nhân dân.
Ông được dựng một đền thờ ở quê nhà Bến Tre. Tên ông được đặt cho một con
đường ở Quận 2 của Thành phố Hồ Chí Minh.
Ơ
Đền thờ Trung tướng Đồng Văn Cống (Giồng Trôm, Bến Tre)
Con trai đầu lòng của ông là một sĩ quan phi công của Không quân nhân dân
Việt Nam, từng bắn rơi máy bay địch, hi sinh trong khi không chiến với phi công Mỹ.
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
-3-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Huỳnh Tấn Phát – Kiến trúc sư, người chiến sĩ cách mạng
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (1913-1989) là Chủ tịch
nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976), Phó
Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Ông là tác giả của cờ
nửa đỏ nửa xanh (Quốc kỳ Cộng hòa Miền Nam Việt
Nam).
Huỳnh Tấn Phát
(1913 - 1989)
Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát sinh ngày 15 tháng
2 năm 1913, tại xã Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Mỹ
Tho (nay thuộc tỉnh Bến Tre). Khi đến tuổi học trung học,
ông lên Sài Gòn học trường Pétrus Ký.
Năm 1933, ông thi vào học khóa 8 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và
tốt nghiệp thủ khoa năm 1938. Cuối năm 1938 khi vừa có tấm bằng kiến trúc sư (đỗ
thủ khoa), ông trở về Sài Gòn và làm việc tại văn phòng kiến trúc sư Chauchon,
người Pháp tại số 68 - 70 đường Mayer.
Năm 1940, ông là kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên mở văn phòng kiến trúc tư ở
Sài Gòn. Năm 1941, ông đoạt giải nhất cuộc thi thiết kế khu Trung tâm hội chợ triển
lãm Đông Dương do Toàn quyền Đông Dương Jean Decoux tổ chức.
Các biệt thự do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát thiết kế trước năm 1943 ở Sài
Gòn đến nay vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp cổ kính rất phù hợp với khí hậu nóng, ẩm
phương nam. Một số biệt thự vẫn còn đến ngày nay như Biệt thự số 7 Lê Duẩn; biệt
thự số 151 Nguyễn Đình Chiểu; biệt thự số 6 Nguyễn Huy Lượng...
Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông là chủ nhiệm báo Thanh Niên, hoạt
động trong phong trào Thanh niên Tiền Phong, truyền bá quốc ngữ, cứu tế nạn đói ở
Nam Bộ. Ông được bí mật kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương ngày 5 tháng
3 năm 1945. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông cùng một số trí thức Nam Bộ tham
gia cướp chính quyền ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông đã thiết kế và chỉ đạo thực hiện
công trình Kỳ đài cao 15m ghi tên 11 vị trong Lâm ủy Nam Bộ tại ngã tư Nguyễn
Huệ - Lê Lợi chỉ trong đêm 24 tháng 8 năm 1945.
Năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, được bổ sung làm ủy viên dự khuyết Ban Thường trực Quốc hội. Chiến
tranh Đông Dương bùng nổ, ông công tác bí mật ở Sài Gòn, bị Pháp bắt giam ở
Khám lớn Sài Gòn. Năm 1949, ông ra chiến khu, giữ chức Ủy viên Ủy ban Kháng
chiến Hành chính Nam Bộ, Giám đốc Sở Thông tin Nam Bộ, trực tiếp phụ trách Đài
phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do.
Sau Hiệp định Genève chia cắt 2 miền đất nước năm 1954, ông ở lại Sài Gòn,
làm việc tại văn phòng của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện. Năm 1954, đồ án thiết kế
-4-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
của ông tham dự cuộc thi thiết kế nhà văn hóa dự kiến xây dựng ở Khám lớn Sài Gòn
đã đoạt giải II (không có giải I) và Thư viện Sài Gòn (đồng tác giả với Nguyễn Hữu
Thiện) là một trong những công trình đẹp nhất Sài Gòn được giới nghề và công
chúng đánh giá cao.
Ông cũng tham gia các phong trào đòi hòa bình, tự do, dân chủ, thống nhất đất
nước, đòi thi hành Hiệp định Genève. Năm 1960, ông bí mật thoát ly khỏi Sài Gòn,
tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, giữ chức vụ Phó Chủ
tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Mặt trận
Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn - Gia Định.
Tháng 6 năm 1969, ông được Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam bầu làm
Chủ tịch của Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và giữ chức vụ này cho đến ngày
nước Việt Nam tái thống nhất hòa bình 1976.
Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1976, Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử
làm Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Xây dựng cơ bản Nhà nước,
Phó Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam. Ông làm Trưởng ban chỉ đạo Quy hoạch
Thủ đô và Chủ nhiệm đồ án thiết kế xây dựng thủ đô Hà Nội, chỉ đạo và góp ý kiến
các dự án thiết kế quy hoạch các đô thị trong cả nước như: Hà Nội, TP. Hồ Chí
Minh, Phan Thiết, Nha Trang, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tây Ninh...
Ông còn đảm trách các chức vụ: Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch
Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Ông mất ngày 30 tháng 9 năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tên ông được đặt cho các phố ở Hà Nội (nối đường Cổ Linh với Sài Đồng),
thành phố Hồ Chí Minh (nối Trần Xuân Soạn với phà Bình Khánh), Đà Nẵng (đoạn
cắt đường 30 tháng 4 với Hồ Nguyên Trừng), Huế (nối đường Nguyễn Hữu Thọ với
Lê Minh)...
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
Lãnh binh Nguyễn Ngọc Thăng
-5-
ơ
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Ngọc Thăng (1798 - 1866) là một võ tướng nhà
Nguyễn, thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu
tiên của Bến Tre và Nam Kỳ. Do ông từng giữ chức Lãnh
binh, nên dân gian vẫn thường gọi ông là Lãnh binh
Thăng.
Nguyễn Ngọc Thăng
(1798 - 1866)
Lãnh binh Thăng sinh tại năm 1798 tại ấp Giồng Keo, làng
Mỹ Thạnh, huyện Tân An (nay là xã Mỹ Thạnh,
huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).[1] Ông xuất thân trong
một gia đình nông dân, từ miền Trung vào lập nghiệp đã lâu
nên khá giả.
Cha ông tên Nguyễn Công, mẹ là Trần Thị Kiếm. Cha mẹ ông sinh được ba
người con, ông là con trai trưởng. Từ thuở thiếu niên, Nguyễn Ngọc Thăng phải giúp
cha mẹ nhiều công việc đồng áng và tỏ ra ham học, thông minh, có thiên hướng về võ
nghệ. Do vậy, ngoài học chữ Hán của các thầy đồ trong làng, ông còn cùng với bạn
bè trang lứa tìm đến các lò võ xung quanh vùng để học võ nghệ.[1]
Lớn lên, ông đăng lính triều đình. Vốn thông minh và giỏi võ nghệ, nên trong
thời gian ở quân đội, ông luôn được cấp trên quan tâm. Đến năm 1848, dưới thời Tự
Đức, ông được thăng chức lãnh binh. Đến khi đủ tài lực, ông đứng ra chiêu mộ dân
để khai khẩn đất đai, lập đồn điền vùng Bảo Hựu (Bến Tre).
Mờ sáng ngày 1 tháng Chín (âm lịch) năm Mậu Ngọ (1858), năm Tự Đức thứ
11, quân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng. Sau 5 tháng giao tranh, quân Pháp vẫn bị cầm
chân ở nơi đây. Theo lệnh của Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp là Phó đô
đốc Rigault de Genouilly, hai phần ba số lính Pháp kéo vào tấn công thành Gia Định.
Ngày 17 tháng 2 năm 1859, quân Pháp đổ bộ, nã đại pháo và dùng chất nổ
đánh thủng cửa Đông thành. Quân Pháp dùng thang cao leo vào, pháo của quân Việt
từ trên thành bắn xuống, nhưng không mấy hiệu quả... Nhận được tin, Lãnh binh
Thăng đem binh từ Thủ Thiêm đến cứu viện, nhưng chưa kịp đến nơi thì thành Gia
Định đã bị đối phương chiếm lấy, sau khi đôi bên giáp mặt đánh nhau rất ác liệt.
Thành mất, Hộ đốc trấn giữ thành là Võ Duy Ninh và án sát Lê Từ tuẫn tiết.
Nghe tin Gia Định thất thủ, triều đình Huế liền phái Thượng thư bộ Hộ Tôn Thất
Hiệp mang 1.500 quân vào đóng ở Biên Hòa, còn Lãnh binh Thăng được lệnh vẫn
đóng giữ vùng Chùa Cây Mai. Tại đây, ông cho củng cố đồn lũy, nhưng do vũ khí
của Pháp quá mạnh nên chỉ sau một thời gian cầm cự, ông cũng phải bỏ đồn.
Sau khi chiếm được thành Gia Định và hạ xong Đại đồn Chí Hòa, Pháp xua
quân tiến đánh Định Tường, vì đây là cửa ngõ của vựa lúa gạo vùng đồng bằng sông
Cửu Long.
Ngày 5 tháng 6 năm 1862, triều đình Huế ký hòa ước Nhâm Tuất nhượng ba
tỉnh là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho Pháp. Vua Tự Đức
-6-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
xuống chiếu dụ kêu gọi bãi binh. Không đồng tình, Trương Định vẫn ở lại Gò
Công để tiếp tục kháng Pháp.
Khi ấy, Lãnh binh Thăng cũng đã rút quân về Gò Công. Kể từ đây, ông tiếp tục
chiến đấu chống Pháp dưới quyền chỉ huy của Trương Định.
Ngày 19 tháng 8 năm 1864, một thuộc hạ cũ của Trương Định sau đầu hàng
Pháp là Huỳnh Công Tấn đã dẫn đường cho quân Pháp bất ngờ đánh úp bản
doanh. Trương Định bị trọng thương và ông đã rút gươm tự sát tại Ao Dinh (Gò
Công), để bảo toàn khí tiết vào rạng sáng ngày 20 tháng 8 năm 1864.
Dù bị tổn thất lớn, nhưng Lãnh binh Thăng vẫn cùng với các nghĩa quân quyết
tâm chiến đấu, không chịu đầu hàng.
Vào ngày 27 tháng 6 năm 1866 (tức ngày Rằm tháng 5 năm Bính Dần), trong
lúc đang chỉ huy nghĩa quân đánh nhau với đối phương ở hữu ngạn sông Soài Rạp,
ông bị trúng đạn, tử thương. Lợi dụng đêm tối, các thuộc hạ trung thành đã dùng ghe
đưa thi hài ông về Mỹ Lồng (nay là xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm) để an táng
ông.
Nghe tin ông mất, vua Tự Đức có phong sắc, áo, mão và một thanh gươm. Do
chiến tranh, những di vật này đặt tại ngôi miếu thờ ông ở ấp Giồng Keo bị hư hỏng và
thất lạc.
Mộ Lãnh binh Thăng hiện ở tại ấp Giồng Keo, làng Lương Mỹ, tổng Bảo
Thành (nay là ấp Căn Cứ, xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
Lê Quang Quan - Người anh hùng đất Ba Châu
-7-
ơ
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Lê Quang Quan
(Tán Kế)
Lê Quang Quan, tự Kế (nên cũng thường gọi là Tán Kế)
sinh tại làng Mỹ Chánh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Ông
nội ông quê quán ở Bình Định vào đất Ba Tri lập nghiệp.
Kế thừa tinh thần thượng võ của ông cha từ nơi quê cũ,
ông luyện tập võ nghệ khá tinh thông và khi lớn lên ông
đăng lính triều đình.
Sau khi triều đình Huế ký hòa ước 1862, nhường 3 tỉnh
miền Đông cho Pháp, ông cùng với một số binh sĩ khác bất
mãn, bỏ ngũ trốn về quê.
Trở về Mỹ Chánh, ông đi vận động nhân dân trong vùng, tập hợp trai tráng, rèn
vũ khí, luyện tập võ nghệ, chuẩn bị lực lượng chống Pháp ngay trên đất quê nhà.
Tháng 6 năm 1867, giặc Pháp chiếm đánh 3 tỉnh miền Tây, trong đó có Bến
Tre (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Vĩnh Long). Ông đứng ra mộ binh, phát động khởi nghĩa
chống Pháp tại vùng Ba Châu (gồm Châu Phú, Châu Thới và Châu Bình), được nhân
dân hưởng ứng khá đông. Nghĩa quân do ông lãnh đạo dựa vào địa thế hiểm trở (lúc
bấy giờ phần lớn diện tích đất đai là rừng, cây cối rậm rạp) đã gây cho đối phương
nhiều tổn thất. Nhưng do sự chênh lệch về trang bị kỹ thuật, lại thiếu kinh nghiệm
chiến đấu, lực lượng khởi nghĩa sau nhiều lần đụng độ bị thiệt hại nặng nề. Trước
tình thế bị địch bao vây ngày một khó khăn, ông ra lệnh giải tán lực lượng, chỉ chọn
một số người thân cận rút vào vùng rừng lau sậy, chà là hoang vu, tạm tránh những
mũi tấn công của địch để chờ cơ hội tìm phương sách đối phó. Một tên đào ngũ đã
lén báo cho quân Pháp đồn trú gần đó biết nơi ông ẩn náu, và chúng đã bao vây bắt
được ông. Sau đó, chúng đưa ông ra hành quyết và đem đầu ông bêu ở chợ Châu
Thới, nhằm đe dọa tinh thần dân chúng, vào ngày 11-1-1869. Trong dân gian ở vùng
này còn lưu hành giai thoại về cái thủ cấp (của Tán Kế) đựng trong giỏ tre, đôi mắt
vẫn biết giận, mở trừng trừng không chịu nhắm.
Cảm phục cái chết của người anh hùng đất Ba Châu, nhân dân nhiều nơi trong
tỉnh đã lập miếu thờ ông. Mộ ông xây dựng tại làng Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri.
Hiện nay, đền thờ ông được xây dựng khá khang trang tại xã Mỹ Chánh.
Đền thờ Tán Kế tại Mỹ Chánh Hòa, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Nguồn: Danh nhân bến Tre
-8-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Đình Chiểu - Nhà thơ yêu nước
Nguyễn Đình Chiểu
(1822-1888)
Nguyễn Đình Chiểu ( 1822–1888), tục gọi là Đồ
Chiểu (khi dạy học), tự Mạch Trạch, hiệu Trọng
Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là nhà thơ lớn nhất
của miền Nam Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.
Nguyễn Đình Chiểu sinh ngày 13 tháng 5 năm Nhâm
Ngọ (1 tháng 7 năm 1822), tại quê mẹ là làng Tân Thới,
phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (thuộc
phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ngày
nay).
Ông xuất thân trong gia đình nhà nho. Cha ông là Nguyễn Đình Huy,
người làng Bồ Điền, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên; nay thuộc
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Lớn lên, ông cưới vợ ở đây và đã có
hai con (một trai và một gái). Mùa hạ, tháng 5 năm Canh Thìn (1820) Tả quân Lê
Văn Duyệt được triều đình Huế phái vào làm Tổng trấn Gia Định Thành. Đến
đầu mùa thu, Nguyễn Đình Huy đi theo Tả quân, để tiếp tục làm thư lại ở Văn
hàn ty thuộc dinh Tổng trấn. Ở Gia Định, ông Huy có thêm người vợ thứ là bà
Trương Thị Thiệt, người làng Tân Thới, sinh ra bảy con (4 trai, 3 gái) và
Nguyễn Đình Chiểu chính là con đầu lòng.
Thuở bé, Nguyễn Đình Chiểu được má nuôi dạy. Năm lên 6, 7 tuổi, ông theo
học với một ông thầy đồ ở làng.
Năm 1832, Tả quân Lê Văn Duyệt mất. Năm sau (1833), con nuôi Tả quân
là Lê Văn Khôi, vì bất mãn đã làm cuộc nổi dậy chiếm thành Phiên An ở Gia Định,
rồi chiếm cả Nam Kỳ. Trong cơn binh biến, bố của Nguyễn Đình Chiểu bỏ trốn
ra Huế, nên bị cách hết chức tước. Song vì thương con, cha ông lén trở vào Nam,
đem ông ra gửi cho một người bạn đang làm Thái phó ở Huế để tiếp tục việc học.
Nguyễn Đình Chiểu sống ở Huế từ 11 tuổi (1833) đến 18 tuổi (1840), thì trở về Gia
Định.
Năm Quý Mão (1843), ông đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Khi ấy,
có một nhà họ Võ hứa gả con gái cho ông.
Năm 1847, ông ra Huế học để chờ khoa thi năm Kỷ Dậu (1849). Lần này, ông
cùng đi với em trai là Nguyễn Đình Tựu (10 tuổi).
Ngày rằm tháng 11 năm Mậu Thân (31 tháng 12 năm 1848), má Nguyễn Đình
Chiểu mất ở Gia Định. Được tin, ông bỏ thi, dẫn em theo đường bộ trở về Nam chịu
tang mẹ.
Trên đường trở về, vì quá thương khóc mẹ, vì vất vả và thời tiết thất thường,
nên đến Quảng Nam thì Nguyễn Đình Chiểu bị ốm nặng. Trong thời gian nghỉ chữa
-9-
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
bệnh ở nhà một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y, tuy bệnh không hết, nhưng ông cũng
đã học được nghề thuốc. Lâm cảnh mù mắt, hôn thê bội ước, cửa nhà sa sút... Nguyễn
Đình Chiểu đóng cửa chịu tang mẹ cho đến năm 1851, thì mở trường dạy học và làm
thuốc ở Bình Vi (Gia Định). Truyện thơ Lục Vân Tiên(SGK ngữ văn 9) của ông có lẽ
được bắt đầu sáng tác vào thời gian này.
Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu cưới Lê Thị Điền (1835-1886, người làng
Thanh Ba, huyện Cần Giuộc, trước thuộc Gia Định; nay thuộc tỉnh Long An) làm vợ.
Bà Điền là em gái thứ năm của Lê Tăng Quýnh, học trò ông, vì cảm phục và mến
thương thầy, đã xin gia đình tác hợp. Truyện thơ Dương Từ-Hà Mậu của ông có lẽ
được bắt đầu sáng tác vào thời gian này.
Năm 1858, quân Pháp nổ súng vào Đà Nẵng. Vấp phải sự kháng cự quyết liệt
của quân và dân Việt, họ vào Nam đánh phá thành Gia Định vào đầu năm 1859. Sau
khi tòa thành này thất thủ (17 tháng 2 năm 1859), Nguyễn Đình Chiểu đưa gia đình
về sống ở Thanh Ba (Cần Giuộc), tức quê vợ ông. Vô cùng đau đớn trước thảm cảnh
mà quân Pháp đã gây nên cho đồng bào ông, và rất thất vọng về sự hèn yếu, bất lực
của triều đình, ông làm bài thơ "Chạy giặc".
Đêm rằm tháng 11 năm Tân Dậu (16 tháng 12 năm 1861), những nghĩa sĩ mà
trước đây vốn là nông dân, vì quá căm phẫn kẻ ngoại xâm, đã quả cảm tập kích đồn
Pháp ở Cần Giuộc, tiêu diệt được một số quân của đối phương và viên tri huyện
người Việt đang làm cộng sự cho Pháp. Khoảng mười lăm nghĩa sĩ bỏ mình. Những
tấm gương đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Theo yêu cầu của Tuần
phủ Gia Định là Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu làm bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc", để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận đánh này.
Sau Hòa ước Nhâm Tuất 1862, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ mất về tay Pháp,
theo phong trào "tỵ địa", Nguyễn Đình Chiểu cùng gia đình rời Thanh Ba (Cần
Giuộc) về Ba Tri (Bến Tre), vì không thể sống chung với họ. Chia tay với bạn bè thân
quen, ông làm bài thơ "Từ biệt cố nhân".
Về Ba Tri, ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và đem ngòi bút yêu nước của mình
ra phục vụ cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào Nam Kỳ suốt trong hơn 20 năm, dù
đã mù lòa.
Năm 1863, em trai út ông là Nguyễn Đình Huân theo Đốc binh Là chống Pháp,
hy sinh ở Cần Giuộc.
Tháng 8 năm 1864, thủ lĩnh cuộc kháng chiến chống Pháp ở Gò
Công là Trương Định bị thương rồi tuẫn tiết ở Ao Dinh; xúc động, Nguyễn Đình
Chiểu làm bài văn tế và mười hai bài thơ liên hoàn để điếu ông.
Năm 1867, Kinh lược sứ Phan Thanh Giản và Đốc học Vĩnh Long Nguyễn
Thông tổ chức đưa di hài nhà giáo Võ Trường Toản từ làng Hòa Hưng (Gia Định) về
táng ở Bảo Thạnh (Ba Tri), Nguyễn Đình Chiểu có đến dự lễ rước.
Ngày 4 tháng 8 năm đó (1867), Phan Thanh Giản tuẫn tiết vì không giữ được thành
Vĩnh Long, Nguyễn Đình Chiểu có làm hai bài thơ điếu ông. Năm 1868, thủ lĩnh
- 10 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
kháng Pháp ở Ba Tri là Phan Tòng (còn có tên là Phan Ngọc Tòng) hy sinh, ông làm
10 bài thơ điếu.
Năm 1877, Nguyễn Đình Chiểu dời đến ở làng An Bình Đông (sau đổi là An
Đức) cách chợ Ba Tri khoảng hai cây số.
Năm 1883, Tỉnh trưởng Bến Tre là Michel Ponchon đã đến nhà để yêu cầu ông
nhuận chính quyển thơ Lục Vân Tiên, đồng thời ngỏ ý trao trả lại ruộng vườn của
ông mà họ đã chiếm đoạt. Ông khẳng khái nói: "Đất vua không ai trả thì đất riêng của
tôi có sá gì", rồi khước từ mọi hứa hẹn giúp đỡ của chính quyền thực dân. Lại hỏi ý
muốn riêng của ông, ông đáp "muốn tế vong hồn nghĩa sĩ Lục tỉnh", và được viên
Tỉnh trưởng chấp thuận. Sau đó, ông tổ chức lễ tế tại chợ Ba Tri, và đọc bài "Văn tế
nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh".
Năm 1886, vợ ông là bà Lê Thị Điền mất lúc 51 tuổi. Buồn rầu vì vợ mất, vì
cảnh nước mất nhà tan đã bấy lâu, vì bệnh tật ngày càng trầm trọng, hai năm sau,
ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tý (3 tháng 7 năm 1888), Nguyễn Đình Chiểu cũng qua
đời tại Ba Tri, thọ 66 tuổi. Ngày đưa tiễn nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu về cõi vĩnh
hằng, cánh đồng An Đức rợp trắng khăn tang của những người mến mộ ông.
Ông được an táng cạnh mộ vợ, nay thuộc ấp 3, xã An Đức, huyện Ba Tri,
tỉnh Bến Tre.
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
- 11 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Quyền – Người chí sĩ yêu nước
Nguyễn Quyền (1869–1941) là một chí sĩ yêu nước Việt
Nam thời cận đại. Ông là một trong những sáng lập viên
của phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
Nguyễn Quyền
(1869–1941)
Nguyễn Quyền, hiệu là Đông Đường, sinh năm 1869 tại
làng Thượng Trì, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh trong
một gia đình nhà nho, Nguyễn Quyền đỗ tú tài Hán học và
được bổ nhiệm làm Huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, do đó người
ta thường gọi ông là Huấn Quyền.
Năm 1907, ông xin từ chức huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, về Hà Nội cùng với một
số bạn bè như Lương Văn Can, Ngô Đức Kế, Dương Bá Trạc, Đào Nguyên Phổ,
Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… lập Trường Đông Kinh nghĩa thục nhằm truyền
bá tinh thần yêu nước, đào tạo học sinh với kỳ vọng dùng con đường văn hóa để đấu
tranh với bọn thực dân, khôi phục lại nền độc lập của dân tộc, trong khi các phong
trào võ trang lần lượt bị thất bại. Nguyễn Quyền được cử làm giám học trường. Cũng
trong thời gian này, ông có sáng tác nhiều bài thơ yêu nước, vận động cổ vũ cho cuộc
Duy tân như Cắt tóc, Chiêu hồn nước…
Chín tháng sau ngày khai giảng trường, chính quyền thực dân đánh hơi thấy
những hoạt động của nhóm Đông kinh nghĩa thục có ảnh hưởng lớn đến tình hình xã
hội bên ngoài và gây nguy hiểm cho chúng, nên tìm mọi cách để ngăn cản. Viên
Thống sứ Bắc Kỳ buộc Nguyễn Quyền phải trở về với chức giáo thọ, nhưng không
được trở lại Lạng Sơn, mà đổi về huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Phú Thọ. Một tháng sau
khi từ chức, thì ông bị mật thám Pháp bắt, đưa về Hà Nội. Chúng giam ông tại nhà
lao Hỏa Lò. Hội đồng đề hình (Commission criminelle) ghép tội ông vào án "trảm
giam hậu", rồi đổi thành án khổ sai chung thân, đày đi Côn Đảo (1909). Cảm động
trước bản án của 5 chí sĩ yêu nước (gồm Nguyễn Quyền, Lê Đại, Võ Hoành, Dương
Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí) một tác giả vô danh đã làm bài thơ đăng trên báo Mai (số 9,
ngày 25-4-1936) nhan đề là Nam thiên phong vân, trong đó có đoạn ca ngợi hành
động yêu nước của Nguyễn Quyền:
"Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một
Cơn nhiệt thành lửa đốt buồng gan
Đùng đùng gió cuốn mây tan
Lạng thành giáo chức từ quan cáo về.
Mở tân giới, xoay nghề tân học
Đón tân trào, dựng cuộc duy tân
Tân thư, tân báo, tân văn
Chân đi miệng nói xa gần thiếu đâu
- 12 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Trường Nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phố Hà thành…"
Đến năm 1910, Nguyễn Quyền được chính quyền thực dân ân xá, nhưng không
được trở về quê nhà, kể cả Hà Nội, nơi ông đã từng hoạt động. Chúng đưa ông về “an
trí” ở tỉnh Bến Tre, cùng lúc đó Dương Bá Trạc bị đưa về Long Xuyên, Võ Hoành về
Sa Đéc, Hoàng Tăng Bí về Huế, Phan Châu Trinh về Mỹ Tho. Thực ra đây là một
cách giam lỏng các nhà trí thức yêu nước, cách ly họ khỏi môi trường cũ. Mỗi tháng,
chính quyền thực dân "chu cấp" cho mỗi người 8 đồng bạc Đông Dương để chi tiêu
sinh sống. Nguyễn Quyền, lúc ban đầu có nhận, nhưng một thời gian sau, nhờ sự giúp
đỡ của đồng chí, đồng bào hảo tâm, ông từ chối không nhận trợ cấp này nữa.
Tuy bị giam lỏng và bị theo dõi, nhưng Nguyễn Quyền vẫn bí mật liên lạc với
những nhà yêu nước trong vùng Lục tỉnh, mở tiệm may tại thị xã Bến Tre để làm nơi
liên lạc, giao thiệp hợp pháp với bên ngoài, vận động quần chúng góp tiền bạc, gởi
sang Nhật giúp Phan Bội Châu và phong trào Đông Du.
Năm 1916, do sự khai báo của cơ sở, ông bị Sở mật thám Sài Gòn gọi lên truy
hỏi, nhưng vì không đủ chứng cứ buộc tội, chúng đành phải thả ông về lại Bến Tre.
Năm 1924, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhân chuyến vào Nam, có ghé lại Bến Tre
thăm ông và có làm thơ tặng, trong đó có câu "Kim mã tê thanh hồng nhựt ánh, Kê
mi án kiếm quá trùng quan" hàm ý khơi dậy lòng yêu nước của người chiến sĩ năm
xưa.
Vào giai đoạn cuối đời, Nguyễn Quyền do tuổi tác và bệnh tật, bạn bè đồng chí
ngày một thưa dần, hơn nữa ông không đủ sức và điều kiện nắm bắt được nhịp sống
sôi động của cao trào dân chủ diễn ra trên đất nước ta trong những năm của thập kỷ
30, ông nghiêng về cảnh vui thú điền viên, cố giữ lòng trong sạch của một nhà nho
hơn là hành động của người chiến sĩ. Khi thì ông lui về sống ở quê vợ thứ tại Thạnh
Phú, lúc ở Cồn Ngao (Trà Vinh), cuối cùng ông chuyển về sống ở Sa Đéc, dựa vào
nguồn lợi của mấy mẫu vườn cây ăn trái của con và mất tại đây ngày 18-7-1941,
hưởng thọ 72 tuổi. Trước khi mất, ông có đọc cho một đồng chí ở Cao Lãnh ghi lại
lời chúc ngôn bằng chữ Hán, đại ý là muốn giải bày tấm lòng yêu nước, yêu dân của
một trí thức Nho học được thể hiện trong gần 40 năm hoạt động, nhưng “lực bất tòng
tâm", việc lớn không thành…
Tên của ông được đặt cho một con đường tại phường Nguyễn Du, quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà Nội, một phố tại phường Cao Xanh, thành phố Hạ Long, một
con đường tại phường Đại Phúc, thành phố Bắc Ninh.
Nguồn: Wikipedia
(Bách khoa toàn thư mở)
- 13 -
Tài liệu sưu tầm “Danh nhân Bến Tre”
=======================================================================
Nguyễn Thị Định – Nữ tướng đầu tiên của QĐND Việt Nam
[ơ
Ơ
Nguyễn Thị Định
(1920 – 1992)
Nguyễn Thị Định (15 tháng 3 năm 1920 – 26 tháng
8 năm 1992), còn được gọi là Madame Nguyễn Thị
Định, Ba Định (bí danh Bích Vân, Ba Tấn, Ba Nhất và Ba
Hận), là nữ Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam đầu
tiên và nữ chính trị gia Việt Nam. Nguyên Phó Tư
lệnh Quân giải phóng Miền nam Việt Nam, Phó Tư lệnh
Chiến dịch Hồ Chí Minh. Bí thư Tỉnh uỷ Bến Tre, Phó
Chủ tịch Hội đồng nhà nước, Chủ tịch Hội liên hiệp phụ
nữ Việt Nam. Uỷ viên Trung ương Đảng khoá IV, V,
VI. Đại biểu quốc hội khoá VI, VII, VIII.
Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15-3-1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng
Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà là út của 10 anh em trong gia đình nông dân giàu lòng yêu
nước và cách mạng. Thuở nhỏ, bà phải sống trong xã hội thực dân và phong kiến, gia
đình đông con nên khó có điều kiện cắp sách đến trường như bao người khác. Bổn
phận là anh, hơn nữa thương em nhiều nên anh Ba (Ba Chẩn) đã dạy bà học cho biết
cái chữ tại nhà. Tuy không học được nhiều nhưng bà rất thông minh, nhạy cảm và
hiểu biết đủ điều, thích đọc nhiều truyện, đặc biệt là truyện Lục Vân Tiên của cụ
Nguyễn Đình Chiểu. Những nhân vật, những hình ảnh, những cuộc đời trong truyện
gợi cho bà có một ước mơ vươn đến cuộc sống cao đẹp, gieo trong lòng bà tình
thương sâu sắc đối với tầng lớp nghèo trong xã hội và căm ghét những cảnh bất công.
Cứ mỗi ngày đem cơm, nước cho anh Ba trong tù, tận mắt chứng kiến cảnh lính Pháp
tra tấn, đánh đập dã man, thân hình bầm tím, máu chảy loang trên nền xi măng thì
lòng bà lại quặn đau như thắt. Lúc này bà mới hiểu các anh bị bắt, bị đánh đập là vì
làm việc cứu nước, cứu dân, chống lại Pháp, chống lại chủ điền. Từ đó bà hiểu nhiều
về nỗi nhục mất nước, người giàu ức hiếp người nghèo và cần phải chống lại chúng.
Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi, bà bắt đầu tham gia cách mạng. Hai năm sau
(1938) bà được đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng trong thời
gian này, bà xây dựng gia đình với ông Nguyễn Văn Bích – Tỉnh ủy viên tỉnh Bến
Tre, được không bao lâu thì chồng bị Pháp bắt đày đi Côn Đảo và hy sinh tại đó.
Nhận được tin chồng hy sinh, lòng căm thù của bà lại nhân gấp bội. Bất chấp con còn
nhỏ, gởi lại mẹ chăm sóc, bà thoát ly tham gia họat động cách mạng tại tỉnh nhà.
Năm 1940, bà lại bị Pháp bắt và biệt giam tại nhà tù Bà Rá, tỉnh Sông Bé (nay
thuộc tỉnh Bình Phước). Ba năm tù cũng là ba năm họat động kiên cường, bất khuất
của bà trong nhà tù. Năm 1943, ra tù trở về Bến Tre, bà liên lạc với tổ c...
 





